Tết diệt sâu bọ của người Việt

Diễm Tú,

Có những ngày Tết nhỏ thôi, không sắm sửa rình rang, không nghỉ phép cả tuần, nhưng cứ mỗi năm vào đúng dịp ấy, người Việt khắp ba miền lại tự động dậy sớm, đong bát rượu nếp, vớt vài quả mận đỏ ối trong rổ rồi gọi con cháu: "Đoan ngọ rồi, ăn đi cho diệt sâu bọ".

Năm nay, Tết Đoan ngọ rơi vào thứ Sáu, ngày 19/6/2026 Dương lịch, tức mùng 5 tháng 5 Âm lịch. Cái tên "Đoan ngọ" được giải nghĩa rất gọn trong các sách phong tục cổ: "Đoan" có nghĩa là bắt đầu, "ngọ" chỉ khoảng thời gian từ 11h đến 13h trong ngày. Đoan ngọ tức là thời điểm bắt đầu giờ Ngọ, khi dương khí đạt mức thịnh nhất. Một cái tên rất Á Đông, rất nho học, rất xa lạ với thế hệ trẻ ngày nay. Nhưng cái tên dân dã đi kèm thì ai cũng thuộc: Tết diệt sâu bọ. Hay cách nói cộc hơn của các bà các mẹ ngày xưa, Tết giết sâu bọ

Vì sao một ngày Tết lại mang cái tên nghe có vẻ "nông nghiệp" đến vậy? Và vì sao, qua hàng trăm năm, người Việt vẫn không nỡ bỏ ngày mùng 5 tháng 5 ấy đi, dù xã hội đã chuyển từ làng quê lúa nước sang phố thị bê tông?

Tết diệt sâu bọ của người Việt 2026: Khám phá phong tục độc đáo - Ảnh 1.

Khi cả dân tộc cùng đi "diệt sâu bọ", trong cây và trong người

Trong thuyết dân gian Việt Nam kể lại rằng, ngày xưa có một vụ mùa nông dân được bội thu nhưng ngay sau đó sâu bọ kéo về phá hoại đồ ăn, cây trái. Lúc mọi người đang lo lắng thì bỗng có một ông lão từ xa đi tới tự xưng là Đôi Truân, chỉ dân chúng mỗi nhà lập một đàn cúng đơn giản gồm bánh tro, trái cây, sau đó ra trước nhà mình vận động thể dục. Người dân làm theo, chỉ một lúc sau sâu bọ đàn lũ té ngã rã rượi. Ông lão dặn cứ đến mùng 5 tháng 5 hàng năm thì làm như vậy, sâu bọ sẽ không phá được nữa. 

Đó là truyền thuyết. Nhưng khoa học và phong tục học hiện đại đưa ra một cách giải thích thực tế hơn: Truyền thống diệt sâu bọ này xuất phát từ thực tế khí hậu và sản xuất ở Việt Nam, giai đoạn đầu mùa hè trời nóng và ẩm khiến sâu bọ sinh sôi nhiều đe dọa cây trồng, các vi sinh vật gây bệnh cho người cũng phát triển. Diệt sâu bọ không chỉ để bảo vệ sản xuất mà còn để bảo vệ sức khỏe con người. 

Cái thú vị của Tết Đoan ngọ ở Việt Nam nằm chính tại đây. Người mình không chỉ diệt sâu bọ ngoài đồng. Người mình còn diệt sâu bọ trong chính cơ thể mình. Theo quan niệm dân gian, trong cơ thể con người, đặc biệt là hệ tiêu hóa, tồn tại những "sâu bọ" ký sinh. Nếu không được tiêu diệt, chúng sẽ sinh sôi và gây hại cho sức khỏe. Người xưa tin rằng, những "sâu bọ" này chỉ lộ diện vào ngày mùng 5 tháng 5 Âm lịch, vì vậy mới hình thành tục làm lễ và thực hiện nghi thức "diệt sâu bọ" vào dịp này. 

Cho nên mới có tục ăn rượu nếp ngay khi vừa thức dậy, lúc bụng còn đói, sâu bọ trong ruột chưa kịp tỉnh. Rượu nếp cay, men nồng, được tin là làm cho "sâu" trong ruột say lả ra. Sau đó là mận chua, vải ngọt, đào, dưa hấu, bánh tro nguội mát, chấm với mật mía. Bao nhiêu vị chua, vị nồng, vị mát hợp lại thành một bữa "diệt khuẩn" cổ truyền của người Việt, đi trước cả khái niệm probiotic và detox của phương Tây đến hàng trăm năm.

Sách Bắc Thành địa dư chí, mục Phong tục, từng ghi rằng vào ngày này, người dân có thói quen bó lá ngải, nhuộm móng tay, buộc chỉ cổ tay như một cách để xua đuổi điềm xấu và mang lại may mắn. Sách Đồng Khánh địa dư chí cũng miêu tả: "Tết Đoan ngọ chuẩn bị đầy đủ rượu và hoa quả lễ tổ tiên từ sáng sớm". Tức là cái Tết bé nhỏ này, dù không trống dong cờ mở như Tết Nguyên đán, vẫn là một ngày được người Việt xưa nâng niu đến mức biên cả vào sách địa dư chính thức.

Tháng năm, nhớ nhót, mận, rượu nếp và lá móng

Có lẽ chưa ai viết về tháng năm trong đời sống người Việt hay hơn nhà văn Vũ Bằng. Trong tuỳ bút Thương nhớ mười hai, ròng rã viết suốt mười một năm từ 1960 đến 1971, ông dành nguyên một chương để gọi tên tháng năm bằng cái tên rất tình: "Tháng năm, nhớ nhót, mận, rượu nếp và lá móng".

Và Vũ Bằng đã viết về Đoan ngọ bằng một giọng cố chấp đến mức xúc động. Ông kể:

"Đừng ai thấy thế mà bảo rằng mình không tìm tòi, học hỏi thêm. Không. Mình muốn tiến luôn, nhưng bảo mình bỏ tết Đoan ngọ vì nó hủ lậu không hợp thời, nhất định mình không chịu. Có khi chính vì thế mà mình lại yêu tháng năm hơn nữa cũng nên bởi vì tháng năm có tết Đoan ngọ… mà nhớ đến bao nhiêu phong tục của nước ta đã tạo nên một nền văn hoá oai hùng mà bao nhiêu ngoại nhân muốn cắt ngọn đều tỏ ra bất lực".

Đó là một câu văn rất Vũ Bằng. Vừa bướng, vừa thương, vừa kiêu hãnh. Bướng ở chỗ nhất quyết không chịu bỏ một cái Tết bị cho là "hủ lậu". Thương ở chỗ chính vì ngày Tết bé nhỏ ấy mà ông yêu cả tháng năm. Và kiêu hãnh ở chỗ ông nhìn ra cái Tết tưởng tầm thường này là một phần của "nền văn hoá oai hùng mà bao nhiêu ngoại nhân muốn cắt ngọn đều tỏ ra bất lực".

Ông còn kể tiếp một điều rất đáng để chúng ta hôm nay suy ngẫm:

"Sống vào cái thời đại mới này, mỗi khi muốn phát động một chiến dịch gì, gây một phong trào gì, kỷ niệm một ngày lịch sử gì ta vẫn thấy dán khẩu hiệu ầm ầm, bắc loa đi cổ động nhân dân sa sả thế mà có nhiều lúc nhân dân cũng lười biếng chẳng theo; vậy mà sao cứ đến mấy ngày lễ vớ vẩn ở đâu, chẳng cần cổ động, chẳng căng biểu ngữ, chẳng hô khẩu hiệu mẹ gì mà dân vẫn cứ tự động theo răm rắp? Cứ lấy cái ví dụ người mình, nghìn nhà như một vạn nhà như một, tự động ăn tết Đoan ngọ thì đủ biết".

Đọc đến đây, ta thấy hiện ra một điều rất lạ. Tết Đoan ngọ không có ai phát động, không có cơ quan nào tuyên truyền, không có chương trình quốc gia nào kêu gọi. Vậy mà từ thế kỷ này qua thế kỷ khác, "nghìn nhà như một, vạn nhà như một", người Việt vẫn răm rắp dậy sớm, ăn rượu nếp, dâng mận đào lên ban thờ tổ tiên. Đó là sức mạnh ngầm của văn hoá. Cái thứ không cần ai ép buộc nhưng vẫn cứ ở lại, đời này qua đời khác, như một dòng chảy lặng lẽ dưới mặt đất.

Vũ Bằng còn ghi lại một câu ca dao rất đẹp về tháng năm trong cùng chương ấy, mà bất kỳ ai từng có một mùa hè ở nông thôn Bắc Bộ đều thấy thân thuộc:

"Tháng tư đi tậu trâu bò,

Để cho ta lại làm mùa tháng năm.

Sớm ngày đem lúa ra ngâm,

Bao giờ mọc mầm ta sẽ vớt ra…"

Tháng năm trong câu ca dao ấy không phải tháng năm của nghỉ ngơi. Đó là tháng năm của làm mùa – tháng người nông dân nai lưng giữa đồng, tháng phụ nữ tất bật chuẩn bị cho hè, và đúng giữa cái tháng vất vả ấy, người ta dành ra một ngày để dừng lại, ăn một bát rượu nếp, dâng vài quả mận lên ban thờ, gọi đó là một cái Tết.

Tết Đoan ngọ vì thế không phải là ngày nghỉ. Nó là một điểm dừng nhỏ giữa nhịp sống vất vả của người Việt. Một khoảnh khắc tạm gác công việc để chăm cho cơ thể, cho gia đình, cho tổ tiên. Có lẽ chính cái tinh thần ấy đã khiến nó sống dai hơn rất nhiều ngày lễ được phát động một cách rầm rộ.

Tết diệt sâu bọ của người Việt 2026: Khám phá phong tục độc đáo - Ảnh 2.

Một cái Tết, ba miền, ba cách thương

Có một điều thú vị khi nhìn vào mâm cúng Tết Đoan ngọ của ba miền: Cùng một ngày, cùng một ý nghĩa, nhưng mỗi miền lại có cách bày tỏ rất khác nhau, phản ánh chính tính cách và khí hậu của từng vùng.

Người miền Bắc giữ ngày Tết này theo lối nghiêm cẩn nhất. Mâm cúng Tết Đoan Ngọ ở miền Bắc thường gồm những món cơ bản như nước, rượu, bánh tro, bánh ú, hương, vàng mã, hoa, xôi, chè, cơm rượu nếp, và các loại hoa quả như đào, mận, vải, hồng xiêm. Đặc biệt, cơm rượu nếp là món nhất định không thể thiếu trên mâm cúng. Bánh tro được làm từ gạo nếp ngâm cùng nước tro của các loại lá cây khô, gói trong lá chuối rồi đem luộc. Một số địa phương ở miền Bắc như Lào Cai thường có thêm bánh khúc. Vào thời khắc 12 giờ trưa, người Bắc xưa còn rủ nhau ra vườn hái lá, vì tin rằng đúng giờ ngọ ngày mùng 5 tháng 5, mọi loại lá đều có dược tính cao nhất trong năm.

Người miền Trung lại có cách chăm chút riêng. Bên cạnh bánh tro và cơm rượu nếp ép thành miếng vuông vức, mâm cúng miền Trung không thể thiếu chè kê - đặc sản của người Huế, nấu từ hạt kê vàng óng, ăn cùng bánh tráng vừng giòn rụm. Và đặc biệt, là thịt vịt. Quan niệm xưa cho rằng, thịt vịt có tính mát, ăn vào sẽ giải nhiệt cho cơ thể, bổ máu và tốt cho hệ tiêu hóa. Người miền Trung không sợ nóng. Họ sợ mất cân bằng. Và vịt là cách họ lấy lại sự cân bằng giữa cái nóng tháng năm.

Người miền Nam lại có cách hồn nhiên hơn cả. Cơm rượu của miền Nam không để rời mà được vo thành những viên tròn trắng tinh, ngâm trong nước đường, ăn vào ngọt lịm và mềm xèo. Bánh ú bá trạng nhân đậu xanh, thịt mỡ, gói lá tre đầy đặn. Và món chè trôi nước tròn vành vạnh, viên to bằng quả trứng, nhân đậu xanh thơm bùi, dầm trong nước đường gừng nóng cùng nước cốt dừa béo ngậy. Người miền Nam thưởng Đoan ngọ như người ta thưởng một ngày hè dễ chịu: Ngọt, mát, đầy đặn, không cầu kỳ.

Ba miền, ba mâm cúng, ba cách thương nhớ. Nhưng có một điểm chung: Ở bất cứ đâu trên dải đất hình chữ S, sáng mùng 5 tháng 5, vẫn có một bát rượu nếp được mẹ múc ra, một quả mận đỏ được đưa cho con, và một câu nói thân thuộc: "Ăn đi con, ăn cho diệt sâu bọ".

Vì sao một ngày Tết "vớ vẩn" lại vẫn ở lại với người Việt?

Quay lại với câu hỏi mà Vũ Bằng từng đặt ra cách đây hơn nửa thế kỷ. Vì sao những ngày Tết tưởng "vớ vẩn", không ai phát động, không ai bắt phải nhớ, mà vẫn cứ ở lại với người Việt từ đời này sang đời khác?

Có lẽ vì Tết Đoan ngọ không nằm trong sách giáo khoa, không nằm trong quy định nghỉ lễ, không nằm trong bất kỳ chiến dịch văn hoá nào. Nó nằm ở chỗ một bà ngoại Hà Nội dậy lúc bốn rưỡi sáng để hông cơm rượu nếp cho kịp giờ con cháu đi làm. Nằm ở chỗ một bà mẹ Sài Gòn nắn từng viên chè trôi nước tròn xinh để cúng ông bà. Nằm ở chỗ một người vợ Huế đi chợ từ tinh mơ chọn cho được con vịt còn tươi để mâm cơm cúng có vẻ tử tế.

Cái Tết bé nhỏ ấy được giữ lại không phải bằng luật, mà bằng tay người phụ nữ Việt. Bằng những thao tác tỉ mỉ truyền từ mẹ sang con, từ bà sang cháu, lặng lẽ qua hàng trăm năm mà không cần ai cổ động. Đó cũng chính là cách mà rất nhiều phong tục Việt Nam đã sống sót qua những giai đoạn lịch sử khắc nghiệt, qua các cuộc xâm lăng, qua những thời kỳ bài bỏ "hủ tục", qua cả thời kinh tế thị trường khi mọi giá trị tưởng như đều quy ra được bằng tiền.

Năm 2026, Tết Đoan ngọ rơi vào thứ Sáu. Nếu sáng hôm đó, bạn dậy sớm hơn mọi ngày một chút, đi chợ mua nửa cân rượu nếp cẩm, vài quả mận tươi, một bó vải đầu mùa, một xâu bánh tro chấm mật, rồi bày tất cả lên ban thờ tổ tiên, bạn không chỉ đang giữ một phong tục cũ. Bạn đang nối tiếp một dòng chảy đã có từ trước cả Vũ Bằng, có từ trước cả sách Đồng Khánh địa dư chí, có từ trước cả khi "Tết diệt sâu bọ" trở thành một cái tên dân dã trên đầu môi người Việt.

Đó là một sự nối tiếp lặng lẽ mà bền bỉ. Đúng như Vũ Bằng đã viết: "nền văn hoá oai hùng mà bao nhiêu ngoại nhân muốn cắt ngọn đều tỏ ra bất lực" chính là được giữ bằng những việc nhỏ như thế. Bằng một bát rượu nếp. Bằng một quả mận chua. Bằng một câu nói rất bình thường vào sáng mùng 5: "Đoan ngọ rồi, dậy ăn cho diệt sâu bọ thôi".

Chia sẻ