"Thăng Long tứ trấn" - biểu tượng linh thiêng chốn kinh kỳ và quan niệm tín ngưỡng về sự cân bằng của số 4, hóa ra không hề là "số xấu"?

Vũ.,
Chia sẻ

"Thăng Long tứ trấn" được dân gian mệnh danh là dấu ấn tâm linh Việt mang đậm giá trị văn hoá lịch sử của dân tộc.

Xuôi dòng tìm hiểu về "Thăng Long tứ trấn", người ta không khỏi ngạc nhiên trước câu chuyện lịch sử được phủ đầy lớp bụi thời gian nhưng vẫn còn vẹn nguyên giá trị. Những di tích lịch sử được khai sinh gắn liền với thần thoại, qua năm tháng thâm trầm vẫn cất giấu nhiều bí ẩn về Hà Nội.

Trải qua biết bao biến cố thăng trầm, mảnh đất Hà Nội nghìn năm văn hiến vẫn tồn tại nhiều vẻ đẹp bình dị, cổ kính và thiêng liêng của những ngôi đền mang lại. Cuộc sống hiện đại, phồn hoa mới mẻ mỗi ngày, tuy nhiên, "Thăng Long tứ trấn" in đậm vẻ đẹp linh thiêng của chốn kinh kỳ, dấu ấn về một Thăng Long xưa oai hùng vẫn còn đó.

Khái niệm "Thăng Long tứ trấn" xuất hiện năm 1956 trong tập sách "Thăng Long cổ tích khảo tịnh hội đồ" của tác giả Đặng Xuân Khanh. Và từ ấy, mỗi một người dân Hà Nội đều biết "Tứ trấn Hà Nội" gồm: Đông trấn - Bạch Mã tối linh từ (đền Bạch Mã), Tây trấn - Linh Lang Đại Vương từ (đền Voi Phục), Nam trấn - Kim Liên từ (đền Kim Liên), Bắc trấn - Trấn Vũ đại đế từ (đền Quán Thánh).

Sự cân bằng của số 4 trong tín ngưỡng của người Việt

Du xuân đầu năm: Tìm về "Thăng Long tứ trấn" - 4 ngôi đền thiêng bậc nhất chốn kinh kỳ - Ảnh 1.

Ảnh: Sưu tầm

Với nhiều người, họ không thích số 4 vì số 4 đọc là "tứ" gần âm "tử" chỉ sự xui rủi, chết chóc. Tuy nhiên ở câu chuyện đằng sau, số 4 trong văn hoá của người Việt lại mang một màu sắc khác.

Trong kho tàng thần thoại, điển tích điển cố đến truyền thuyết, phong thuỷ học đều cho thấy số 4 mang lại nhiều ý nghĩa tốt lành, lâu bền và viên mãn. Trời có 4 mùa Xuân - Hạ - Thu - Đông, đất có 4 phương Đông - Tây - Nam - Bắc. Cha ông ta thời xưa đã dùng số 4 tượng trưng cho những điều tốt lành, gạn lấy tinh hoa trời đất để cân bằng cuộc sống nhân hoà.

Trong dân gian, những câu chuyện nuôi dưỡng nên tâm thức bao người Việt hẳn là không thể thiếu được Tứ bất tử - Bốn vị Thánh sống mãi trong tín ngưỡng tâm linh thờ cúng của người Việt ta. Tứ phủ - Bốn phủ thờ 4 bà Chúa cai quản bốn vùng: Mẫu Thiên, Mẫu Địa, Mẫu Thoải (miền nước), Mẫu Thượng Ngàn (miền rừng núi). Tứ pháp: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện là vị thần Mây - Mưa - Sấm - Chớp đại diện cho các hiện tượng tự nhiên. Hay An Nam tứ đại khí - Bốn bảo vật pháp khí của nhà Phật có tượng Phật chùa Quỳnh Lâm (Quảng Ninh), tháp Báo Thiên (Hà Nội), chuông Quy Điền (Hà Nội), vạc chùa Phổ Minh (Nam Định).

Qua đó mới thấy, con số 4 gắn liền với cuộc sống, phản ánh quy luật và sức mạnh của tự nhiên. Đồng thời, đó cũng là ngưỡng vọng, cầu mong sự bền vững, trường tồn, nhận được sự chở che bảo vệ cuộc sống con dân luôn được an lành, phúc khí.

Tương tự, sự tồn tại của "Thăng Long tứ trấn" là lời gợi nhắc, là dấu ấn ghi tạc về sự thịnh trị của kinh thành Thăng Long xưa và bảo vệ, che chở cho mảnh đất Hà Nội ngày nay.

Sự ra đời của "Thăng Long tứ trấn"

"Thăng Long tứ trấn" hay "Tứ trấn Hà Nội" hình thành từ rất sớm, gắn liền với việc ra đời của kinh đô Thăng Long. Bao quanh kinh thành Thăng Long là bốn kinh trấn xưa. Bốn nội trấn này gồm Kinh Bắc, Sơn Nam, Hải Đông, Sơn Tây có nhiệm vụ che chắn, trấn giữ kinh thành. Trong nội trấn là 4 ngôi đền thiêng thờ bốn vị thần trấn giữ 4 huyết mạch trên mảnh đất Thăng Long. 

Đông trấn - Bạch Mã tối linh từ (đền Bạch Mã) thờ thần Long Đỗ - Thành Hoàng Hà Nội. Tây trấn - Linh Lang đại vương từ (đền Voi Phục) thờ Linh Lang - một vị hoàng tử thời nhà Lý. Nam trấn - Kim Liên từ (đền Kim Liên) thờ Cao Sơn Đại Vương. Bắc trấn - Trấn Vũ đại đế từ (đền Quán Thánh) thờ Huyền Thiên Trấn Vũ.

Đi qua từng di tích, ta mới thấy được vẻ đẹp cổ kính trầm mặc, linh thiêng nhưng không kém phần tôn nghiêm, oai hùng của "Thăng Long Tứ trấn". Bởi vậy, "Thăng Long tứ trấn" không chỉ là nét độc đáo về tâm linh, là biểu tượng vẻ đẹp văn hoá tín ngưỡng dân gian của người Việt mà còn là nơi khiến mỗi người dân có thể tự hào về lịch sử huy hoàng của cha ông.

Ảnh: Sưu tầm

Đông trấn linh từ

Đền Bạch Mã ở 76 Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm.

Theo tư liệu được lưu giữ, đền Bạch Mã được xây dựng năm 866. Sau này, đền được xây lại vào năm 1010 khi Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long. Đền Bạch Mã toạ lạc ở phía Đông thành, ở phường Hà Khẩu, tổng Đông Thọ, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, nay thuộc số 76 Hàng Buồm, phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Tương truyền, đây là miền đất thiêng được dòng sông Tô Lịch ôm ấp bao bọc. Miền đất Long Đỗ chính là ngọn núi Nùng, nơi mà Lý Nguyên Gia (822) lập đền thờ thần Tô Lịch và tôn làm Thành Hoàng. Câu chuyện hình thành đền Bạch Mã gắn liền với việc xây thành Đại La của Cao Biền và đắp thành Thăng Long của vua Lý Thái Tổ. 

Cuốn sách cổ "Việt Điện U Linh" có ghi, ngày ấy, Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long. Sau rất nhiều lần đắp thành không được, vua cho người cầu khấn nơi đền Long Đỗ. Bỗng thấy ngựa trắng đi ra từ trong đền, nhanh chóng lần theo vết chân ngựa, nhà vua đã phác hoạ được bản đồ xây thành. Bản đồ phỏng theo vết chân ngựa trắng đã giúp đắp thành đứng vững thành công và từ đó thần Long Đỗ được vua phong hàm " Quốc đô định bang Thành Hoàng Đại Vương".

Qua nhiều lần trùng tu, đền Bạch Mã hiện nay vẫn thấp thoáng nét kiến trúc đặc trưng thời Nguyễn vào thế kỷ 19. Kiến trúc đền được xây theo hình chữ "Tam", quay về hướng Đông Nam, có một tam bảo và 13 hoành phi. Đền được bố trí theo chiều dọc gồm: Phương môn, Phương đình, Tiền tế, Trung tế và Hậu cung. Tượng thờ Bạch Mã (ngựa trắng) được đặt ở chính điện, khám thờ thần Long Đỗ tại vị trong cung cấm.

Lễ hội đền Bạch Mã ngày nay thường được tổ chức vào ngày 12, 13/2 âm lịch với nhiều hoạt động văn hoá. Hội đền được tổ chức vào ngày đầu xuân mang theo mong ước về một năm bội thu, quốc thái, dân an, ấm no và hạnh phúc.

Trải qua hơn một thiên niên kỷ giữa con phố Hàng Buồm ồn ào, náo nhiệt, bao quanh là cuộc sống thay đổi từng ngày nhưng đền Bạch Mã vẫn lắng mình thầm lặng giữ được vẹn nguyên nét cổ kính, trầm mặc của thời gian.

Đền Bạch Mã được xếp hạng Di tích lịch sử Kiến trúc Nghệ thuật Quốc gia năm 1986 và đã trở thành một biểu tượng lừng lững ở phố cổ Hà Nội. Cũng từ lâu, ngôi đền thờ thần Long Đỗ đã trở thành một trong những điểm đến tâm linh của người dân Thủ đô. Ngày qua ngày, nơi đây vẫn chào đón con dân Việt trở về với giá trị cổ phong, về với tinh hoa dân tộc, về với những trang sử hào hùng của năm tháng.

Ảnh: Sưu tầm

Tây trấn linh từ

Đền Voi Phục ở 362 Kim Mã, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình.

Đền Voi Phục nằm ở phía Tây thành Thăng Long, nay thuộc quận Ba Đình, Hà Nội. Ngôi đền thờ hoàng tử Linh Lang đời Lý. Theo huyền tích, Hoàng tử Linh Lang, thác sinh có công giúp vua Lý Thánh Tông đánh giặc Tống. 

Nhờ xin sứ giả tâu với vua xin 1 lá cờ hồng, 1 cây giáo và 1 voi, nhận đủ phẩm vật, Linh Lang hoàng tử bỗng hét lớn: "Ta là thiên tướng". Sau đó, con voi phủ phục xuống để hoàng tử ngự. Cùng với tài binh khiển, hoàng tử Linh Lang chỉ đạo binh mã đánh tan quân Tống. Chẳng lâu sau chiến thắng vẻ vang, oai hùng đó, Linh Lang hoàng tử bệnh trọng và qua đời. Nhà vua vô cùng thương tiếc bèn phong Linh Lang hoàng tử làm Linh Lang Đại Vương và lập đền thờ.

Trong tâm thức ngọn nguồn văn hoá dân gian, cái tên đền Voi Phục luôn gắn liền với đền thờ Linh Lang Đại Vương. Tại cổng đền hiện nay, trước khi bước vào cổng tam quan là hai bức tượng voi phủ phục hai bên để nhắn nhủ tới người đời sau công lao của vị anh hùng bảo vệ bỡ cõi nước nhà.

Nằm nép mình bên hồ nước cạnh công viên Thủ Lệ, được bóng cây cổ thụ bao quanh, đền Voi Phục từ lâu đã trở thành một chốn tâm linh được người dân tôn kính. 

Hơn thế nữa, có thể nói, đền Voi Phục là một trong những địa điểm tâm linh được nhân dân hết mực tôn kính. Mỗi dịp lễ Tết, mùng 1 và ngày Rằm, người dân kinh kỳ vẫn đến cảm tạ, vãn cảnh tại đền. Đền thờ Linh Lang Đại Vương được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá quốc gia vào năm 1962.

Ảnh: Sưu tầm

Nam trấn linh từ 

Đền Kim Liên ở 176 Kim Hoa, phường Phương Liên, quận Đống Đa.

Đền Kim Liên toạ lạc ở phía Nam Hà Nội, thuộc quận Đống Đa. Nơi đây thờ thần Cao Sơn đồng thời "Trấn Nam" được công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia vào năm 1990.

Theo tương truyền, linh thần Cao Sơn được thờ phụng ở đền có sự tích lâu đời từ thời dựng và giữ nước đầu tiên của người Việt xưa. Thần Cao Sơn trong huyền tích không chỉ là người có công giúp Sơn Tinh thắng Thuỷ Tinh mà sau này còn giúp vua Lê. Sau đó, vua cho dựng "Cao Sơn Đại Vương thần từ bi minh tự" để phụng thờ.

Theo sử liệu có ghi, đền Kim Liên được xây dựng trên một gò đất cao. Bởi vì, xưa kia vùng này là vùng trũng, chủ yếu là đầm lầy. Thờ phụng thần Cao Sơn trên gò đất cao mong cầu thần phù trợ cho việc trồng cấy, canh tác, giảm trừ thiên tai, thuỷ hoạ cho người dân.

Mặc dù đền Kim Liên thờ Cao Sơn Đạ Vương, nhưng theo tiến trình lịch sử, người dân hội họp để bàn công việc nên lập thêm tam quan trước đền, tu bổ thêm một vài kiến trúc mới tạo thành đình. Bởi vậy, gọi là đình hay đền Kim Liên đều được cả.

Đền Kim Liên có Nghi môn (nếp nhà ba gian), Đại bái (nhà 5 gian) và Cung cấm. Có thể nói rằng, đền Kim Liên cất giữ những câu chuyện văn hoá mang màu sắc lịch sử, là cầu nối giữa xưa và nay, góp phần gìn giữ văn hiến ngàn năm của đất Kinh đô.

Lễ hội đền Kim Liên diễn ra vào 16/3 âm lịch. Các hoạt động trong lễ hội tỏ lòng ngưỡng vọng, biết ơn tới thần Cao Sơn. Không chỉ có người dân nơi đây mà khách thập phương cũng đổ về dự lễ thể hiện sự kính vọng, cảm tạ vị thần che chở, ban phúc lộc cho người dân.


Ảnh: Sưu tầm

Bắc trấn linh từ 

Đền Quán Thánh ở 190 Quán Thánh, phường Quán Thánh, quận Ba Đình.

Đền Quán Thánh nằm ở phía Bắc trong Tứ trấn của Kinh thành Thăng Long. Đền nằm cuối đường Cổ Ngư xưa, nay là đường Thanh Niên. Toạ lạc ở vị trí đắc địa, giao giữa đường Thanh Niên và phố Quán Thánh trông ra Hồ Tây và dựa vào hồ Trúc Bạch.

Đền Quán Thánh thờ phụng Huyền Thiên Trấn Vũ. Theo truyền thuyết, vào đời vua Hùng, nơi rừng Thiết Lâm u tối, làng Long Đỗ (Hà Nội ngày nay) có hồ ly thành tinh 9 đuôi làm hại dân. Ngọc Hoàng liền sai thần Huyền Thiên giáng linh, dùng phép tiêu diệt hồ tinh, cả khu rừng Thiết Lâm sụp xuống thành hồ (Hồ Tây ngày nay). Cho nên, vua Lý Thái Tổ sau khi xây dựng Kinh thành, đã cho lập đền thờ Huyền Thiên ở phía Tây Bắc thành để diệt yêu trừ ma.

Đền Quán Thánh có lối kiến trúc độc đáo, mỗi năm đều thu hút đông đảo người dân đến vãn cảnh, cảm tạ, cầu phúc và tham quan. Điểm đặc biệt trong đền có thờ một tượng đồng đen Huyền Thiên Trấn Vũ nặng 4 tấn, cao 3,96m được đúc vào năm 1677. Ở đền Quán Thánh, người dân sẽ bắt gặp lối kiến trúc tài hoa với nghệ thuật chạm khắc gỗ tinh xảo như tứ linh, cá, dơi, tùng, cúc, trúc, mai....

Đền Quán Thánh không chỉ lưu giữ những bảo vật quý giá mang hơi thở thời gian và còn là một chốn trấn giữ phía Bắc uy nghiêm và huyền bí của mảnh đất giàu lịch sử. Vào ngày 3/3 âm lịch hằng năm sẽ diễn ra lễ hội của đền nhằm tưởng nhớ người xưa có công diệt trừ tà ma, bảo vệ cuộc sống an lành, bình yên của dân chúng. Không chỉ vậy, nơi đây vào ngày mùng 1, ngày Rằm hoặc lễ Tết cũng đón tiếp lượng lớn du khách và người dân đến dâng tâm hương, cầu bình an và may mắn.

Trong quyết định số 93/QĐ-TTg, do Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam ký ngày 18/1/2022 về xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt đợt 12, "Thăng Long tứ trấn" được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt. 

Được cho là nơi lưu giữ linh khí của Thủ đô, mỗi đầu xuân năm mới, thực hiện truyền thống cầu may, người dân đều tìm về "Thăng Long tứ trấn" để vãn cảnh, dâng nén tâm hương, dốc lòng bái thỉnh, mong một năm yên ấm, sung túc và bình an. 

"Thăng Long tứ trấn" - biểu tượng linh thiêng chốn kinh kỳ và quan niệm tín ngưỡng về sự cân bằng của số 4, hóa ra không hề là "số xấu"? - Ảnh 6.