Lo ngại 'lạm phát' giáo sư, phó giáo sư nếu để trường đại học bổ nhiệm
“Đã đến lúc phải trả chức danh giáo sư, phó giáo sư về đúng bản chất trong hệ thống giáo dục đại học hiện đại, không phải là một danh vị tôn vinh suốt đời, mà là một vị trí việc làm gắn với trách nhiệm pháp lí, năng lực chuyên môn và yêu cầu phát triển của cơ sở giáo dục đại học”, đại diện Bộ GD&ĐT nhận định.
Không còn là danh vị suốt đời
Bộ GD&ĐT đang lấy ý kiến dự thảo xét, công nhận, bổ nhiệm GS, PGS thay thế Nghị quyết 37 của Chính phủ ban hành năm 2018. Điểm mới của dự thảo là bộ dự kiến chỉ quy định một cấp xét và bổ nhiệm chức danh GS, PGS trực tiếp tại cơ sở giáo dục ĐH. Các trường được quyền chủ động quyết định số lượng chỉ tiêu bổ nhiệm hằng năm, xây dựng tiêu chuẩn cụ thể, thành lập hội đồng xét bổ nhiệm, cũng như ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của hội đồng phù hợp với chiến lược phát triển của đơn vị.
Vai trò của Bộ sẽ tập trung vào việc xác lập ngưỡng tiêu chuẩn tối thiểu, bao gồm năng lực giảng dạy, uy tín khoa học và khả năng thu hút nguồn lực phục vụ nghiên cứu. Từ “sàn” chất lượng đó, các trường có thể xây dựng tiêu chuẩn cao hơn tùy theo định hướng phát triển và đặc thù ngành nghề. Bộ đặc biệt khuyến khích các cơ sở giáo dục tiên phong nâng chuẩn để khẳng định uy tín học thuật và hội nhập với các chuẩn mực quốc tế.
Phiên họp xét công nhận chức danh GS, PGS năm 2025 của Hội đồng Giáo sư Nhà nước
“Đã đến lúc phải trả chức danh giáo sư, phó giáo sư về đúng bản chất trong hệ thống giáo dục ĐH hiện đại, không phải là một danh vị tôn vinh suốt đời, mà là một vị trí việc làm gắn với trách nhiệm pháp lí, năng lực chuyên môn và yêu cầu phát triển của cơ sở giáo dục ĐH”, đại diện Bộ GD&ĐT nhận định.
Dự thảo Thông tư dự kiến thiết lập khung định mức số lượng GS, PGS tối đa cho từng cơ sở giáo dục ĐH trên cơ sở số lượng tiến sĩ, quy mô đào tạo nghiên cứu sinh và năng lực nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo của đơn vị. Tuy nhiên, định mức này được áp dụng linh hoạt, gắn với đề án vị trí việc làm của từng trường, không cào bằng và không triệt tiêu cơ hội phát triển của các nhà khoa học trẻ.
GS.TS Chử Đức Trình, Hiệu trưởng Trường ĐH Công nghệ (ĐH Quốc gia Hà Nội) cho biết, việc chuyển giao quyền xét chọn, công nhận và bổ nhiệm GS, PGS cho các trường ĐH trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực quốc gia là xu hướng phù hợp với thông lệ quốc tế, yêu cầu đổi mới quản trị ĐH.
Cần chính sách điều tiết
Theo GS Chử Đức Trình, một vấn đề cần được làm rõ trong quá trình cải cách cơ chế GS, PGS ở Việt Nam là sự khác biệt giữa học hàm và vị trí việc làm học thuật. Trong mô hình truyền thống chịu ảnh hưởng của nhiều quốc gia châu Âu trước đây, giáo sư thường được xem là một học hàm hoặc danh hiệu học thuật phản ánh trình độ và uy tín chuyên môn của cá nhân. Trong khi đó, xu hướng quản trị ĐH hiện đại lại coi GS, PGS chủ yếu là các vị trí việc làm học thuật được bổ nhiệm để thực hiện những nhiệm vụ cụ thể trong đào tạo, nghiên cứu và phục vụ cộng đồng. Giá trị của chức danh không chỉ nằm ở thành tích đã đạt được trong quá khứ mà còn được nhấn mạnh ở năng lực đảm nhận trách nhiệm học hiện tại và đóng góp cho sự phát triển tương lai của cơ sở giáo dục ĐH.
Từ góc độ quản trị ĐH, việc chuyển từ tư duy học hàm sang tư duy vị trí việc làm mang lại nhiều lợi ích. Trước hết, chức danh GS, PGS sẽ gắn với nhu cầu phát triển của từng cơ sở đào tạo, thay vì chỉ là sự ghi nhận thành tích cá nhân. Thứ hai, cơ chế này tạo động lực để người được bổ nhiệm tiếp tục duy trì năng lực học thuật và hiệu quả công tác trong suốt thời gian đảm nhiệm vị trí. Thứ ba, các trường ĐH có thể chủ động xây dựng đội ngũ học giả phù hợp với chiến lược phát triển của mình, qua đó nâng cao tính cạnh tranh và khả năng tự chủ của hệ thống giáo dục ĐH.
Khi quyền bổ nhiệm thuộc về các trường, GS, PGS sẽ trở thành nguồn nhân lực học thuật có tính cạnh tranh cao. Các trường sẽ phải cạnh tranh để thu hút những học giả xuất sắc thông qua môi trường nghiên cứu, điều kiện làm việc và chính sách đãi ngộ. Điều này giúp hình thành thị trường lao động học thuật lành mạnh, thay vì cơ chế hành chính hóa chức danh như hiện nay.
GS Chử Đức Trình cho hay, để cơ chế này vận hành hiệu quả, cần xây dựng một bộ tiêu chuẩn khung cấp quốc gia hoặc theo nhóm ngành, lĩnh vực đặc thù. Hệ thống tiêu chuẩn phải bảo đảm sự cân bằng giữa các nhiệm vụ cốt lõi của giảng viên ĐH, bao gồm giảng dạy, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và phục vụ cộng đồng. Tiêu chuẩn không nên quá thiên lệch về số lượng công bố quốc tế, khối lượng giảng dạy hay số lượng giáo trình, bởi điều đó có thể tạo ra động cơ chạy theo thành tích hình thức. Ngược lại, yêu cầu về năng lực nghiên cứu và tạo ra các sản phẩm khoa học - công nghệ cũng phải đủ mạnh để bảo đảm chất lượng học thuật. Đối với từng lĩnh vực chuyên môn, đặc biệt là các ngành khoa học tự nhiên, công nghệ, kỹ thuật hay khoa học xã hội và nhân văn, cần có các chỉ báo đánh giá phù hợp với đặc thù của ngành.
Trên cơ sở khung chuẩn quốc gia, các trường ĐH cần được trao quyền xây dựng hệ thống tiêu chuẩn riêng tương đương hoặc cao hơn nhằm phù hợp với sứ mạng, định hướng phát triển và vị thế học thuật của mình.
“Xét đến cùng, GS và PGS là những vị trí học thuật cao nhất trong cơ sở giáo dục ĐH, đi kèm với trách nhiệm đặc biệt trong đào tạo, nghiên cứu và dẫn dắt học thuật”. GS Chử Đức Trình
Tuy nhiên, ông Trình nhận định, quá trình phân quyền này cũng đặt ra những thách thức mới. Một mặt, có thể xuất hiện tình trạng tập trung quá nhiều GS, PGS tại một số cơ sở đào tạo lớn; mặt khác, nhiều trường địa phương tiếp tục thiếu hụt đội ngũ học giả đầu ngành. Vì vậy, Nhà nước cần có chính sách điều tiết và phát triển nguồn nhân lực khoa học trên phạm vi toàn quốc. Các cơ chế hỗ trợ về tài chính, điều kiện nghiên cứu, cơ hội nghề nghiệp và môi trường học thuật cần được thiết kế để thu hút đội ngũ GS, PGS đến công tác tại các địa phương và khu vực còn khó khăn. Điều này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ĐH trên phạm vi cả nước mà còn tạo động lực phát triển cân bằng giữa các cơ sở đào tạo.