Vì sao trẻ đã tiêm vaccine vẫn có thể mắc não mô cầu?
Dù đã tiêm vaccine trẻ vẫn có thể mắc não mô cầu nếu chưa được bảo vệ trước chủng vi khuẩn gây bệnh hoặc chưa tiêm đủ mũi theo khuyến cáo.
TP.HCM ghi nhận liên tiếp 5 ca mắc não mô cầu đều là học sinh, gồm chùm 4 ca ở Trường THCS Hai Bà Trưng (xã Hiệp Phước) và 1 ca ở Trường TH-THCS-THPT Ngô Thời Nhiệm (phường Bình Dương). Trong đó, một học sinh ở Trường THCS Hai Bà Trưng đã tử vong. Đáng chú ý có trường hợp đã tiêm vaccine nhưng vẫn nhiễm bệnh khiến nhiều phụ huynh lo lắng.
Không phải một loại vaccine bảo vệ được tất cả chủng não mô cầu
Theo BS.CKI Đinh Văn Thới, Phó Trưởng Phòng khám Đa khoa, Viện Pasteur TP.HCM, não mô cầu là bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn gây ra, lây chủ yếu từ người sang người qua đường tiếp xúc gần với dịch tiết đường hô hấp của người bệnh, chẳng hạn khi ho hoặc hắt hơi.
Điều đáng lo ngại là bệnh có thể diễn tiến rất nhanh, trong khi những biểu hiện ban đầu không đặc hiệu. Người mắc bệnh có thể xuất hiện các triệu chứng như sốt nhẹ, đau cơ, mệt mỏi, dễ bị nhầm lẫn với những bệnh lý thông thường khác. Khi các dấu hiệu nghiêm trọng xuất hiện, tình trạng bệnh có thể đã chuyển nặng, khiến việc điều trị trở nên khó khăn hơn. Một số trường hợp cần được điều trị tích cực bằng các phương tiện và thuốc hiện đại mới có thể kiểm soát được tình trạng bệnh.

Trẻ tiêm vaccine tại Viện Pasteur TP.HCM. (Ảnh minh họa)
Giải thích nguyên nhân trẻ đã tiêm vaccine nhưng vẫn mắc não mô cầu, BS Thới cho biết vi khuẩn gây bệnh có nhiều nhóm huyết thanh khác nhau. Tại Việt Nam, những nhóm huyết thanh được ghi nhận gây bệnh gồm A, B, C, W và Y. Trong khi đó, vaccine phòng não mô cầu hiện có nhiều loại với phạm vi bảo vệ khác nhau, không phải loại nào cũng có khả năng phòng ngừa tất cả các nhóm huyết thanh này.
“Hiện nay, có những loại vaccine phòng các nhóm huyết thanh A, C, W, Y, trong khi một số loại khác phòng nhóm B hoặc các nhóm B, C. Vì vậy, nếu trẻ đã tiêm một loại vaccine nhưng nhóm vi khuẩn gây bệnh không nằm trong phạm vi bảo vệ của vaccine đó thì trẻ vẫn có thể mắc bệnh”, BS Thới nói.
Theo chuyên gia, ngoài việc lựa chọn đúng loại vaccine, phụ huynh cần quan tâm đến lịch tiêm chủng của trẻ, bao gồm số mũi đã tiêm, khoảng cách giữa các mũi và việc tiêm nhắc lại nếu được khuyến cáo. Trường hợp trẻ mới tiêm một phần lịch vaccine hoặc chưa được tiêm những loại vaccine phù hợp với các nhóm huyết thanh khác thì khả năng bảo vệ có thể chưa đầy đủ.
“Phụ huynh cần kiểm tra lại lịch sử tiêm chủng của con, xem trẻ đã tiêm loại vaccine nào, đủ số mũi hay chưa và có cần tiêm nhắc lại không. Nếu chưa nắm rõ thông tin, cha mẹ nên đưa trẻ đến cơ sở y tế để được bác sĩ tư vấn, rà soát lịch tiêm và hướng dẫn bổ sung những mũi cần thiết, thay vì cho rằng trẻ đã tiêm vaccine thì sẽ không còn nguy cơ mắc bệnh”, BS Thới khuyến cáo.
Việc tiêm vaccine đầy đủ theo hướng dẫn giúp nâng cao khả năng phòng bệnh, nhưng không đồng nghĩa loại bỏ hoàn toàn nguy cơ nhiễm não mô cầu. Vì vậy, bên cạnh tiêm chủng, phụ huynh vẫn cần theo dõi sức khỏe của trẻ, chú ý những dấu hiệu bất thường và đưa trẻ đi khám kịp thời khi có biểu hiện nghi ngờ.
Bệnh não mô cầu vẫn có thể xuất hiện ở bất kỳ đâu
BS.CK2 Nguyễn Minh Tiến, Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi Đồng Thành phố cho biết, não mô cầu không chỉ xuất hiện ở những nơi đông đúc hoặc có điều kiện vệ sinh môi trường kém như nhiều người vẫn nghĩ. Ngay cả tại các quốc gia phát triển, có điều kiện vệ sinh tốt như Singapore và nhiều nước châu Âu, bệnh vẫn có thể lưu hành và gây ra các ca mắc.

Các học sinh tiếp xúc gần với ca bệnh tại phường Bình Dương được uống kháng sinh dự phòng. (Ảnh: HCDC)
“Nguyên nhân là vi khuẩn não mô cầu vẫn tồn tại trong cộng đồng, t ỷ lệ mang vi khuẩn ở nhóm thanh thiếu niên và người trưởng thành trẻ có thể lên đến khoảng 20%. Trong cộng đồng luôn có những người mang vi khuẩn não mô cầu nhưng hoàn toàn khỏe mạnh, không có biểu hiện bệnh. Đặc biệt, nhóm thanh thiếu niên và người trưởng thành trẻ có tỷ lệ mang vi khuẩn tương đối cao, vì vậy bệnh vẫn có thể xuất hiện dù điều kiện vệ sinh tốt và người dân đã được truyền thông về các biện pháp phòng ngừa”, BS Tiến cho biết.
Theo bác sĩ, những đợt gia tăng ca bệnh có thể liên quan đến nhiều yếu tố. Khi sức đề kháng suy giảm, chẳng hạn sau khi nhiễm virus cúm hoặc các tác nhân gây bệnh khác, niêm mạc vùng hầu họng có thể bị tổn thương, tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn bám dính, xâm nhập vào cơ thể và gây bệnh. Đây cũng là một trong những lý do khiến não mô cầu khó được loại trừ hoàn toàn khỏi cộng đồng, ngay cả khi đã có vaccine và các biện pháp dự phòng.
Tuy nhiên, BS Tiến nhấn mạnh, não mô cầu là bệnh nguy hiểm do có thể diễn tiến nhanh, gây biến chứng nặng và tử vong nếu không được phát hiện, xử trí kịp thời. Vì vậy, khi phát hiện ca bệnh, ngành y tế cần nhanh chóng điều tra dịch tễ, xác định những người từng tiếp xúc với bệnh nhân để đánh giá nguy cơ và triển khai các biện pháp dự phòng phù hợp.
Thời gian ủ bệnh não mô cầu thường từ 2-10 ngày, trung bình khoảng 4 ngày. Việc truy vết thường tập trung vào những người tiếp xúc với bệnh nhân trong khoảng 7 ngày trước thời điểm khởi phát triệu chứng, đồng thời có thể được điều chỉnh tùy theo đánh giá dịch tễ của cơ quan y tế.
“Điều quan trọng khi phát hiện một ca bệnh là phải nhanh chóng xác định những người đã tiếp xúc gần, không để bỏ sót các trường hợp có nguy cơ. Những người này cần được nhân viên y tế đánh giá để hướng dẫn sử dụng kháng sinh dự phòng khi có chỉ định, đồng thời triển khai các biện pháp kiểm soát, khoanh vùng và xử lý ổ dịch kịp thời”, BS Tiến nhấn mạnh.
Sau khi người bệnh được điều trị bằng kháng sinh phù hợp khoảng 24 giờ, nguy cơ lây truyền cho những người xung quanh sẽ giảm đáng kể. Tuy nhiên, người từng tiếp xúc gần không nên tự đánh giá rằng mình đã hết nguy cơ, mà cần làm theo hướng dẫn của cơ sở y tế để được xác định có cần dùng thuốc dự phòng hay thực hiện các biện pháp khác hay không.
Trước tình hình ghi nhận các ca mắc não mô cầu ở học sinh, các bác sĩ khuyến cáo phụ huynh bình tĩnh, chủ động kiểm tra lịch sử tiêm chủng của trẻ và đưa trẻ đi tiêm vaccine phù hợp theo tư vấn chuyên môn. Khi trẻ có tiếp xúc gần với người mắc bệnh, gia đình cần liên hệ cơ sở y tế để được hướng dẫn dự phòng; không tự ý sử dụng kháng sinh khi chưa có chỉ định.
Bên cạnh đó, cha mẹ cần chú ý những biểu hiện bất thường như sốt, mệt mỏi hoặc các triệu chứng nghi ngờ khác, đặc biệt khi trẻ có yếu tố dịch tễ liên quan đến ca bệnh. Do bệnh có thể diễn tiến nhanh, việc đưa trẻ đến cơ sở y tế sớm khi xuất hiện dấu hiệu đáng lo ngại có ý nghĩa quan trọng trong phát hiện và điều trị kịp thời.
