Từ vụ nhận gần 500 triệu đồng không trả: Cần làm gì khi "tiền trên trời rơi vào tài khoản"?
Khi tiền bỗng dưng chuyển vào tài khoản, người dân cần chủ động thông báo cho ngân hàng hoặc cơ quan công an.
Như Báo Người Lao Động đã đưa tin, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Trị đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam Nguyễn Thế Lữ (SN 1992, ngụ phường Quảng Trị) về hành vi chiếm giữ trái phép tài sản.
Nhận chuyển khoản nhầm gần 500 triệu đồng nhưng không trả
Trước đó, ngày 10-11, chị Nguyễn Thị Thu Th. (ngụ xã Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị) thực hiện giao dịch bằng điện thoại thì do lỗi mạng đã chuyển nhầm 499.999.999 đồng vào tài khoản mang tên Nguyen The Lu.
Kiểm tra sao kê, chị Th. xác định số tiền đã vào tài khoản của ông Nguyễn Thế Lữ, người bạn hàng lâu năm của gia đình.
Tuy nhiên, dù chị Th. nhiều lần đến nhà đối chiếu sao kê và xin lại số tiền đã chuyển nhầm, ông Lữ không hợp tác và còn chặn liên lạc.
Không còn cách nào khác, chị Th. gửi đơn cầu cứu cơ quan chức năng.
Tiếp nhận đơn, Công an phường Quảng Trị đã vào cuộc xác minh, điều tra theo quy định.
Công an và chính quyền địa phương sau đó nhiều lần đến làm việc, giải thích và vận động gia đình ông Lữ trả lại số tiền nêu trên nhưng không nhận được sự hợp tác.

Ông Nguyễn Thế Lữ (áo xanh) bị khởi tố về tội "Chiếm giữ trái phép tài sản"
Trách nhiệm của người nhận tiền nhầm
Trao đổi với phóng viên, luật sư luật sư Bùi Thị Ánh Tuyết (Đoàn Luật sư TP HCM), cho biết pháp luật Việt Nam đã quy định rất rõ về trách nhiệm của người nhận tiền do chuyển khoản nhầm.
Cụ thể, khi nhận được tiền không rõ nguồn gốc hoặc do chuyển nhầm, người nhận phải giữ nguyên số tiền trong tài khoản, không được sử dụng, chuyển đi hay chiếm đoạt dưới bất kỳ hình thức nào.
Đồng thời, người nhận chủ động thông báo cho ngân hàng hoặc cơ quan công an để phối hợp xác minh, hoàn trả cho chủ sở hữu hợp pháp.
Theo điểm đ khoản 2 Điều 18 Nghị định 282/2025 (quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình), trường hợp người nhận chiếm giữ trái phép tài sản của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự có thể bị phạt từ 3 - 5 triệu đồng.
Bên cạnh đó, người này còn chịu các biện pháp khắc phục hậu quả như buộc trả lại tài sản do chiếm giữ trái phép.
Trrường hợp hành vi chiếm giữ trái phép có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên, người vi phạm còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "Chiếm giữ trái phép tài sản" theo điều 176 Bộ luật Hình sự 2015.
Khung hình phạt là cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 1 đến 5 năm, tùy theo tính chất, mức độ và giá trị tài sản bị chiếm giữ.