'Săn' IELTS lấy điểm cộng: Cuộc đua tốn kém, chênh lệch cơ hội tiếp cận
Gần 36.000 thí sinh dùng IELTS để xét tuyển đại học năm 2026, kéo theo cuộc đua chứng chỉ, áp lực chi phí và chênh lệch về sự công bằng trong cơ hội tiếp cận.
Những năm qua, cùng với sự gia tăng của IELTS trong tuyển sinh, các “cuộc đua” học và thi chứng chỉ ngoại ngữ từ sớm cũng ngày càng rõ nét gây nhiều bất cập cho nhóm học sinh không đủ điều kiện theo đuổi IELTS.
Dự thảo bỏ điểm cộng IELTS từ năm 2027 vì thế được các chuyên gia ngoại ngữ đồng tình vì có thể giảm chênh lệch lợi thế tuyển sinh gắn với điều kiện tiếp cận chứng chỉ, hạn chế chi phí tốn kém và tăng tính công bằng.
Cuộc đua IELTS và những khoản nợ
Anh Ngô Chí Cường, quản trị viên nhiều nhóm lớn chuyên chia sẻ nội dung và tài liệu tiếng Anh, IELTS miễn phí trên Facebook, cho rằng không nên vì tranh luận về bỏ điểm cộng IELTS mà hạ thấp vai trò của tiếng Anh. Muốn học tập và làm việc ở trình độ cao, người học vẫn cần tiếng Anh. Nhiều tài liệu khoa học, kiến thức chuyên ngành và các chứng chỉ quốc tế như ACCA, CFA, CIMA, CPA đều sử dụng tiếng Anh.
Tuy nhiên, anh Cường cho rằng các môn STEM như Toán, khoa học và kỹ thuật cũng quan trọng không kém. Vì vậy, không nên để IELTS tạo ra lợi thế quá lớn trong tuyển sinh đại học, lấn át những năng lực khác. Bên cạnh đó, anh Cường lưu ý mặt trái của “cuộc đua” IELTS là cách một số trung tâm luyện thi chứng chỉ bán khóa học.
Chuyên gia chỉ rõ mặt trái của cuộc đua chứng chỉ, trong đó có những khóa học đắt tiền và nguy cơ học sinh phải gánh các khoản vay do chạy đua chứng chỉ IELTS để săn điểm cộng. (Ảnh minh họa)
Theo anh, hiện có những trung tâm sử dụng hình thức “thúc ép” học viên đăng ký ngay, đưa ra các lộ trình dài, tạo cảm giác nếu không đăng ký lập tức sẽ mất ưu đãi, đồng thời nhấn mạnh số tiền phải trả mỗi tháng thay vì tổng giá trị khóa học. Đáng chú ý, có trường hợp trung tâm hướng dẫn học viên vay tiền từ ngân hàng hoặc công ty tài chính để thanh toán học phí.
“Bản chất là việc một sinh viên ký cam kết tài chính vài chục triệu đồng cho một dịch vụ mà mình chưa sử dụng và chưa biết chất lượng thực tế ra sao”, ông Cường lưu ý.
Một vấn đề khác được anh Cường lưu ý là khoản vay và khóa học có thể là hai hợp đồng khác nhau. Việc người học nghỉ khóa IELTS không đồng nghĩa nghĩa vụ trả khoản vay tự động chấm dứt.
Những bất cập này, theo anh, cho thấy nếu chính sách tuyển sinh tiếp tục tạo ra lợi thế lớn cho cộng điểm IELTS, áp lực đổ tiền “săn” chứng chỉ có thể càng tăng. Vì thế, anh ủng hộ đề xuất bỏ điểm cộng IELTS.
“IELTS không dành cho tất cả”
Từ chính trải nghiệm cá nhân, chị Hoa Đinh, Giám đốc quản lý, Mentor cố vấn học bổng, quản lý cộng đồng học bổng Scholarship for Vietnamese students, đặt vấn đề về chênh lệch khả năng tiếp cận IELTS giữa những học sinh có điều kiện khác nhau.
Chị chia sẻ năm 2011 từng phải dành dụm tiền từ việc dạy thêm tiếng Anh và thực tập tại PwC để đăng ký một khóa luyện IELTS, cộng tiền thi tổng cộng gần 10 triệu đồng.
“Dù từng học chuyên luyện thi học sinh giỏi tiếng Anh cấp 3 và học Đại học Ngoại thương, khi đó tôi vẫn không dám thi IELTS sớm vì điều kiện tài chính” , chị kể và cho biết, chỉ thi khi cần chứng chỉ để xin học bổng.
Theo chị, hiện nay phong trào học IELTS diễn ra sớm hơn rất nhiều. Có học sinh bắt đầu học từ cấp THCS và đạt điểm cao. Với những gia đình có điều kiện, việc cho con học, luyện thi và thi lại nếu chưa đạt mức điểm mong muốn có thể dễ dàng hơn. Trong khi đó, học sinh ở vùng cao, huyện nghèo có thể thiệt thòi không có cùng cơ hội tiếp cận giáo viên và môi trường học tiếng Anh.
“Mặc dù giờ có nhiều nguồn tự học, học online nhưng cũng phải có máy tính, mạng tốt rồi tiền thi mỗi lần cũng không rẻ”, chị Hoa Đinh ủng hộ đề xuất bỏ điểm cộng IELTS để hạn chế sự bất bình đẳng.
Trong kỳ thi, quan trọng nhất là công bằng
Anh Quang Nguyễn, nghiên cứu sinh tiến sĩ Ngôn ngữ học tại Northern Arizona University, Mỹ nhấn mạnh, điều quan trọng nhất của kỳ thi đại học là tạo ra cơ hội công bằng cho học sinh ở mọi miền.
Anh chứng kiến có nhiều học sinh nông thôn, miền núi khi vào đại học gần như không sử dụng được tiếng Anh, đặc biệt ở kỹ năng nghe - nói, do điều kiện học tập trước đó hạn chế. “Sau khi vào đại học các bạn học rất chăm và giỏi hơn cả những bạn Hà Nội, có những bạn đi làm phiên dịch thông thạo từ ghế nhà trường” , anh chia sẻ.
Dự thảo bỏ điểm cộng IELTS từ năm 2027 được các chuyên gia ngoại ngữ đồng tình vì giảm bất công và các cuộc đua tốn kém mà học sinh không có điều kiện khó tiếp cận.
Theo anh, sự khác biệt về cơ hội tiếp cận IELTS do hạn chế điều kiện kinh tế, học tập của các học sinh ở phổ thông không nên trở thành bất lợi kéo dài đến ngưỡng cửa tuyển sinh kỳ thi đại học.
“Điểm IELTS chỉ nên dùng làm yêu cầu đầu vào với các ngành đặc thù cần dùng ngoại ngữ như chương trình học bằng tiếng Anh, một số lĩnh vực liên quan đến ngoại thương, ngoại giao… Như vậy, nó vẫn có giá trị, nhưng được đặt đúng chỗ”, anh Quang Nguyễn nói.
Chiều 21/9, ông Nguyễn Tiến Thảo - Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học (Bộ GD&ĐT) lưu ý, không nên đồng nhất “không được cộng điểm” với “học ngoại ngữ không còn giá trị”.
Nếu chứng chỉ chủ yếu được theo đuổi để lấy lợi thế điểm số, việc học dễ chuyển từ phát triển năng lực giao tiếp, học tập và làm việc sang luyện thi để đạt một mốc điểm. Chính sách cần đưa động lực học ngoại ngữ trở lại đúng mục tiêu: học thật, sử dụng được và tạo lợi thế lâu dài cho người học.
Dự thảo sửa đổi quy định tuyển sinh đại học không thu hẹp cơ hội, mà đưa mọi thí sinh dự tuyển vào cùng một ngành về một thước đo công bằng, minh bạch và có thể kiểm chứng.
Bạn có đồng tình với ý kiến trên? Hãy chia sẻ ở box bình luận bên dưới.