Lễ cúng ông Công ông Táo khắp cả nước
Theo quan niệm dân gian, Táo Quân có vai trò quan trọng trong việc định phúc đức của gia đình. Giáo sư Nguyễn Văn Huyên từng khẳng định trong cuốn "Hội hè lễ Tết của người Việt": "Người ta đốt cho các thần những chiếc mũ tuyệt đẹp trang điểm hoa sặc sỡ, nhiều thoi vàng và bạc bằng hàng mã. Người ta thả xuống con sông gần nhất những con cá chép dùng làm ngựa cho các thần đó cưỡi trên chặng đường mây dài từ đất lên trời".
Tục thờ 'hai ông một bà'
Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, ông Táo hay Táo Quân còn là vị thần cai quản việc bếp núc trong mỗi nhà. Vì là vị thần bếp núc quan trọng nên Táo Quân được thờ phụng và trong năm có một ngày ông được lên chầu trời để báo cáo Ngọc Hoàng những việc diễn ra suốt năm của gia chủ, đó là ngày 23 tháng Chạp.
Trong dân gian, có nhiều truyền thuyết về Táo Quân. Trong Lược khảo về thần thoại Việt Nam, Sự tích thần bếp kể về tình yêu của ba người. Hai vợ chồng Trọng Cao và Thị Nhi lấy nhau đã lâu mà không có con. Một hôm hai vợ chồng cãi nhau, Trọng Cao đánh vợ, Thị Nhi bỏ nhà ra đi, sau đó kết duyên với Phạm Lang. Trọng Cao hối hận bèn bỏ nhà đi tìm vợ, tìm đến khi hết tiền phải xin ăn.
Hình tượng Táo Quân trong tranh dân gian Đông Hồ.
Một hôm Trọng Cao tình cờ đến xin ăn tại nhà Phạm Lang, Thị Nhi nhận ra chồng cũ nhân lúc chồng mới đi vắng thì đưa vào nhà thết đãi. Thị Nhi cho Trọng Cao trú tạm trong đống rơm ngoài đồng. Phạm Lang vô tình đốt đống rơm để lấy tro bón ruộng khiến Trọng Cao bị chết cháy. Thị Nhi thấy Trọng Cao như vậy cũng nhảy vào chết theo. Phạm Lang thấy thế lao vào cứu cũng bị lửa thiêu chết. Câu chuyện của họ khiến Ngọc Hoàng Thượng đế xót thương, cho hóa kiếp thành Thần Bếp và phong cho mỗi người một danh vị. Một người trông coi việc bếp, một người trông coi việc nhà cửa, người còn lại lo chợ búa.
Người Chăm pa cũng có chuyện Vua bếp, kết hợp giữa Sự tích thần bếp và chuyện Ai mua hành tôi. Người Trung Hoa có câu chuyện về nhân vật Trương Lang và Đinh Hương cũng tương tự chỉ khác ở đây nhân vật có hai người.
Truyền thuyết về Táo Quân hay Thần Bếp lan truyền ở nhiều nơi, được cho là xuất phát từ tục thờ Thần Lửa của nhiều dân tộc trên thế giới. Tuy nhiên sự tích Táo Quân và tục thờ “hai ông một bà” mang bản sắc khá riêng của người Việt.
Bán mũ, đồ cúng ông Táo tại chợ Đồng Xuân năm 1920 (ảnh trái) và Bàn cúng Táo quân của một gia đình Hà Nội năm 1955. Ảnh tư liệu.
Nhà văn hóa Trịnh Hoài Đức trong sách Gia Định thành thông chí chép về phong tục của người phương Nam khẳng định có tục thờ thần Táo Quân, ở hai bên vẽ hai hình người nam, ở giữa vẽ một hình người nữ, cũng tượng trưng của quẻ Ly Hỏa có ý là hai hào dương ở giữa một hào âm làm chủ.
Sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính cũng có nêu 23 tháng Chạp là Tết Táo Quân. "Ta thường cho hôm ấy là ngày vua bếp lên chầu trời. Nguyên trong đạo của Lão Tử có nói rằng ngày 23 tháng Chạp, Táo Quân lên chầu trời để tâu việc thiện ác của nhân gian. Ta theo điển ấy nên đến ngày đó thì mua hai mũ ông, một mũ bà để thờ và mua con cá chép để làm ngựa cho Táo Quân lên chầu trời", Phan Kế Bính viết.
Truyền thuyết về Táo Quân có nhiều dị bản, nhưng hầu khắp các vùng miền ở Việt Nam, việc thờ Táo Quân hay Thần Bếp đã trở thành tín ngưỡng không thể thiếu trong đời sống người Việt.
Ông Táo được quan niệm là vị thần cai quản mọi việc trong nhà, coi xét đánh giá những việc đã làm trong năm của gia chủ. Cuối năm, ông có trách nhiệm lên trời báo cáo Ngọc Hoàng những sự kiện xảy ra trong năm ở trần gian. Người Việt thường làm lễ tiễn ông Táo thịnh soạn với mong muốn những điều tốt đẹp nhất sẽ được thưa với Ngọc Hoàng.
Thời điểm mở đầu cho lễ Tết đón xuân
Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Kiều Thu Hoạch cho rằng 23 tháng Chạp coi như thời điểm mở đầu cho lễ tết đón xuân, năm mới. Ngay từ chiều tối 23, khi làm lễ tiễn ông Táo lên chầu trời, cho đến đêm 30 tháng Chạp làm lễ đón ông Táo trở về, không khí chuẩn bị cho Tết Nguyên đán hết sức nhộn nhịp ở mọi vùng, mọi gia đình.
Riêng về bàn thờ Táo Quân, nhà nghiên cứu Toan Ánh có những ghi chép cụ thể. “Bàn thờ Thổ công (thờ chung Thổ Địa, Thổ Kỳ gọi là Táo Quân) thường đặt ngay ở gian bên, cạnh bàn thờ tổ tiên. Tại những gia đình không có bàn thờ tổ tiên, bàn thờ Thổ công được đặt ngay ở gian chính giữa nhà. Bàn thờ Thổ công giản dị hơn bàn thờ tổ tiên, và gồm một chiếc hương án kê liền với hậu tường gian nhà. Trên hương án có chiếc mâm nhỏ, giống chiếc bàn đặt trên hương án bàn thờ gia tiên, và ở trên cũng có ba đài rượu có nắp đậy như trên bàn thờ gia tiên vậy.
Có khi chỉ là một chiếc bàn, trên bàn có một bình hương và một cỗ mục đặt ngay sau bình hương. Dù bàn thờ có giản dị thế nào cũng vẫn là một bàn thờ và đủ biểu lộ sự thành kính của gia chủ đối với vị thần săn sóc gia cư mình”, nhà nghiên cứu cho biết.
Mâm cỗ thịnh soạn dâng lên Táo Quân.
Người miền Bắc thường cúng ông Công ông Táo khá sớm. Từ khoảng 20 tháng Chạp, nhiều gia đình rục rịch chuẩn bị mâm cỗ cúng. Thời điểm muộn nhất để cúng ông Công ông Táo là trưa 23 tháng Chạp. Không nhiều nơi làm lễ cúng sau khoảng thời gian này bởi quan niệm sau 12h trưa ngày 23, các Táo phải lên chầu trời, không còn ở dương gian để nhận lễ.
Lễ vật cúng ông Công ông Táo của người miền Bắc gồm ba bộ mã, trong đó hai bộ dành cho hai Táo ông, một bộ dành cho Táo bà. Mũ của Táo ông có hai cánh chuồn. Đồ vàng mã sẽ được hóa sau lễ cúng.
Mâm cơm cúng ông Công ông Táo là các món ăn truyền thống của người miền Bắc như xôi, gà, giò, chả, canh măng, nem. Một số địa phương của Bắc bộ cúng xôi chè, thường là chè bà cốt, nấu bằng nếp cái, xôi vò, đường nâu và gừng.
Trong đời sống hiện tại, nhiều gia đình chuẩn bị mâm lễ đơn giản với trái cây, mâm cỗ chay.
Lễ dựng nêu ở Đại nội Huế ngày ông Công ông Táo.
Tại miền Trung, thời gian cúng ông Công ông Táo thường rơi vào đêm 22, rạng sáng 23 Âm lịch. Người miền Trung thường dâng một con ngựa giấy có yên cương đầy đủ, không cúng áo mũ cho các Táo như người miền Bắc.
Người dân Huế còn có tục dựng cây nêu trước sân nhà hay sân đình trong sáng 23 tháng Chạp. Ở miền Nam, người dân cúng mũ, áo và đôi hia bằng giấy.
Theo sách Việt Nam phong tục, người Việt quan niệm ba vị Thần Táo định đoạt phước đức cho gia đình. Phước đức này do việc làm đúng đạo lý của gia chủ và những người trong nhà.