Công bố nghiên cứu gây bất ngờ của bác sĩ Việt: Hơn 40% phụ nữ khó có con liên quan tới một loại vi khuẩn

Ngọc Minh,

Theo nghiên cứu, 4 trên 10 phụ nữ vô sinh nguyên phát nhiễm vi khuẩn đường sinh dục.

Nhiễm khuẩn đường sinh dục thường diễn tiến âm thầm, ít triệu chứng nhưng có thể ảnh hưởng đáng kể đến khả năng sinh sản. Một nghiên cứu mới của các nhà khoa học thuộc Trường Đại học Y Dược Huế do GS.BS Lê Minh Tâm và các cộng sự Võ Văn Chính, Trần Thị Như Quỳnh, Lê Đình Dương thực hiện cho thấy có tới 41% phụ nữ vô sinh nguyên phát mang vi khuẩn Mycoplasma sinh dục.

Nghiên cứu được thực hiện trên 78 phụ nữ được chẩn đoán vô sinh nguyên phát, khám và điều trị tại Trung tâm Nội tiết sinh sản và Vô sinh, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế từ tháng 10/2025 đến tháng 5/2026.

Kết quả cho thấy, trong số các trường hợp dương tính, Ureaplasma parvum là tác nhân chiếm ưu thế với tỷ lệ 37,2%, tiếp theo là Ureaplasma urealyticum (9%). Không ghi nhận trường hợp nào nhiễm Mycoplasma genitalium hoặc Mycoplasma hominis.

Điểm đáng chú ý nhất của nghiên cứu là phụ nữ đã từng điều trị vô sinh có nguy cơ nhiễm Mycoplasma sinh dục cao gấp 6,28 lần so với nhóm chưa từng điều trị, sau khi đã hiệu chỉnh các yếu tố như tuổi, học vấn và nghề nghiệp.

Theo nhóm nghiên cứu, điều này có thể phản ánh vai trò của Mycoplasma trong cơ chế gây vô sinh ở nữ giới. Loại vi khuẩn này có thể tồn tại âm thầm trong đường sinh dục, gây tổn thương nội mạc tử cung hoặc vòi tử cung, làm cản trở quá trình thụ thai. Đồng thời, những phụ nữ điều trị vô sinh thường được thực hiện nhiều xét nghiệm chuyên sâu nên khả năng phát hiện vi khuẩn cũng cao hơn.

GS.BS Lê Minh Tâm đang giải thích cho bệnh nhân.

Không phải ai nhiễm cũng có biểu hiện rõ ràng

Mycoplasma là nhóm vi khuẩn không có thành tế bào, gồm các loài Mycoplasma và Ureaplasma. Chúng chủ yếu lây truyền qua đường tình dục và có thể gây viêm niệu đạo, viêm cổ tử cung, viêm vùng chậu, thậm chí làm tăng nguy cơ sinh non hoặc các biến chứng thai kỳ.

Điều đáng lo ngại là nhiều trường hợp nhiễm hoàn toàn không có triệu chứng hoặc chỉ có biểu hiện rất nhẹ, khiến người bệnh không phát hiện sớm.

Trong nghiên cứu, các yếu tố như tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập, chỉ số khối cơ thể (BMI), thời gian mong con hay tiền sử viêm phụ khoa đều không cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê với tình trạng nhiễm Mycoplasma sinh dục.

Một số dấu hiệu như ra dịch âm đạo màu đen sẫm hoặc bất thường ở cổ tử cung có liên quan đến nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, số ca mắc không nhiều nên các tác giả cho rằng cần thêm nghiên cứu để khẳng định.

Vai trò của Mycoplasma trong vô sinh vẫn đang được nghiên cứu

Theo nhóm tác giả, trên thế giới vẫn còn nhiều tranh luận về mức độ ảnh hưởng của Mycoplasma sinh dục đối với vô sinh nữ.

Một số nghiên cứu cho thấy vi khuẩn có thể di chuyển từ âm đạo và cổ tử cung lên buồng tử cung, gây viêm nội mạc tử cung, cản trở phôi làm tổ. Khi lan tới vòi tử cung, vi khuẩn có thể làm tổn thương lông chuyển, gây viêm tắc hoặc giãn vòi tử cung, khiến tinh trùng khó gặp trứng và làm tăng nguy cơ thai ngoài tử cung.

Tuy nhiên, tỷ lệ nhiễm và vai trò của từng loài Mycoplasma khác nhau giữa các quốc gia do sự khác biệt về địa lý, phương pháp xét nghiệm, tập quán sinh hoạt và đối tượng nghiên cứu.

Kết quả tại Huế khá tương đồng với nghiên cứu tại Italy khi đều ghi nhận Ureaplasma parvum là tác nhân phổ biến nhất. Trong khi đó, một số nghiên cứu khác ở các quốc gia khác lại phát hiện tỷ lệ cao hơn của Mycoplasma genitalium hoặc Mycoplasma hominis.

Từ kết quả nghiên cứu, các tác giả khuyến nghị việc tầm soát các tác nhân lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt là Mycoplasma sinh dục, nên được chú trọng hơn ở phụ nữ vô sinh nguyên phát.

Do bệnh có thể diễn tiến âm thầm, xét nghiệm bằng kỹ thuật PCR hiện được xem là phương pháp có độ chính xác cao, giúp phát hiện sớm vi khuẩn để điều trị kịp thời.

Nhóm nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng tiền sử điều trị vô sinh là yếu tố liên quan độc lập với nguy cơ nhiễm Mycoplasma sinh dục. Vì vậy, việc phát hiện và kiểm soát sớm các tác nhân nhiễm khuẩn có thể góp phần hỗ trợ chẩn đoán, lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp và nâng cao cơ hội mang thai cho người bệnh.

Chia sẻ