Quy đổi điểm chứng chỉ ngoại ngữ: Cần một 'bàn cân' chính xác
Việc gánh vác quá nhiều mục tiêu trong một đề thi tốt nghiệp THPT đang tạo ra áp lực đè nặng lên các nhà làm đề, đồng thời làm xuất hiện những biên độ sai lệch trong việc quy đổi điểm tương đương với chứng chỉ quốc tế.
Khi đề thi ôm đồm nhiều mục tiêu
Phân tích về cấu trúc và định hướng của đề thi tốt nghiệp THPT môn tiếng Anh năm 2026, TS Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh, Trưởng phòng Quản trị chất lượng, Trường ĐH Ngoại ngữ (ĐH Quốc gia Hà Nội) nhìn nhận, đề thi đang làm tốt vai trò đánh giá đạt hay không đạt đối với thí sinh để công nhận tốt nghiệp. Đề thi bám sát chương trình đào tạo, đảm bảo học sinh các vùng miền đều có thể đạt được mục tiêu cơ bản này.
Thí sinh thi tốt nghiệp THPT 2026. Ảnh: Thu Hiền
Tuy nhiên, dưới góc độ của một chuyên gia trong lĩnh vực kiểm tra và đánh giá, bà Quỳnh thẳng thắn bày tỏ, mô hình đề thi "2 trong 1" đang gánh vác quá nhiều trọng trách.
“Chúng ta đang bắt một đề thi vừa phải phục vụ mục tiêu xét tốt nghiệp phổ thông, vừa phải gánh thêm mục tiêu phân loại nhóm học sinh giỏi để các trường ĐH tuyển sinh”, bà Quỳnh bày tỏ sự đồng cảm sâu sắc với áp lực của những người ra đề.
Theo bà Quỳnh, để đạt được mục tiêu phân hóa cao, việc đề thi xuất hiện những nội dung khó, thậm chí là một số từ vựng hiếm, vượt quá khuôn khổ của một chương trình giáo dục phổ thông là điều khó tránh khỏi.
Thực tế hiện nay, học sinh không chỉ hoàn thành chương trình trên lớp mà còn đầu tư học các chứng chỉ quốc tế như IELTS từ rất sớm. Áp lực phải phân loại được cả nhóm đối tượng có năng lực vượt trội này để phục vụ tuyển sinh đại học đã vô tình đẩy đề thi tốt nghiệp vào một vòng luẩn quẩn.
Bà Quỳnh cho rằng, nếu đề thi không có phần khó để phân loại, sẽ bất công với nhóm học sinh giỏi muốn cạnh tranh vào trường top.
Ngược lại, việc đưa các nội dung vượt chương trình vào một kì thi mà bản chất chính là xét tốt nghiệp lại tạo ra những băn khoăn về tính hợp lí. Giải pháp căn cơ là nên tách biệt rõ ràng các mục tiêu, một đề thi chỉ nên phục vụ một mục đích cụ thể.
Khoảng vênh kĩ thuật
Một trong những vấn đề gây tranh luận lớn hiện nay là việc xác định mức điểm tương đương giữa đề thi tốt nghiệp THPT và các chứng chỉ quốc tế như IELTS để xét tuyển ĐH.
Dưới góc nhìn khoa học, TS Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh giải thích, về bản chất, mức độ tương đương của các bài thi quốc tế đều được đánh giá dựa trên khung năng lực ngoại ngữ Việt Nam và khung tham chiếu chung châu Âu (CEFR).
Thông thường, các trường ĐH hoặc cơ quan quản lí sẽ căn cứ vào bản đặc tính kĩ thuật của đề thi để đưa ra mức quy đổi (ví dụ: mức điểm này tương đương bậc 3, bậc 4 hay bậc 5).
Tuy nhiên, bà Quỳnh lưu ý rằng, bất kì đề thi nào cũng chỉ là công cụ đánh giá tại một thời điểm nhất định và luôn tồn tại một biên độ dao động kĩ thuật. Bà nhận định đề thi năm nay dường như đang nằm ở biên độ cao hơn so với mức kì vọng thông thường cho điểm 8, điểm 9.
Theo khung chương trình phổ thông, học sinh đạt bậc 3 (tương đương B1) là đã đạt yêu cầu tốt nghiệp, và nếu đạt đến bậc 4 (B2, tương đương IELTS 6.0 trở lên) thì xứng đáng nhận điểm 10.
Tuy nhiên, theo phán đoán của bà Quỳnh, với đề thi hiện tại, những học sinh có năng lực thuộc bậc 4 (B2) có thể sẽ chỉ tiệm cận mức 8 đến 8,5 điểm. Sự vênh này, dù là sai số kĩ thuật tất yếu trong kiểm tra đánh giá, nhưng khi áp vào một kì thi có tính chất bước ngoặt cuộc đời (xét tuyển đại học) liên quan đến hàng triệu thí sinh, nó tạo ra những tác động không nhỏ.
Thực tế cho thấy, đề thi môn tiếng Anh trong kì thi tốt nghiệp THPT năm 2026 đang trở thành tâm điểm chú ý với nhiều ý kiến đánh giá đa chiều từ dư luận và giới chuyên môn. Theo các chuyên gia, đề thi cần được đặt vào bối cảnh mới khi tiếng Anh đã trở thành môn thi tự chọn. Nhóm thí sinh tham gia dự thi năm 2026 phần lớn đã có sự tự sàng lọc, sở hữu thế mạnh ngoại ngữ hoặc có mục đích dùng điểm để xét tuyển ĐH.
\Vì vậy, định hướng nâng chuẩn này đặt ra yêu cầu cơ quan quản lí cần đầu tư đồng bộ về nguồn lực giảng dạy ở tất cả các vùng miền thay vì vô tình nới rộng khoảng cách giáo dục giữa các nhóm đối tượng.
Ghi nhận cho thấy, trong số gần 350.000 thí sinh đăng kí dự thi môn ngoại ngữ, có tỉ lệ nhất định thí sinh đã có chứng chỉ ngoại ngữ. Việc có chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế cũng đang là một lợi thế với nhiều thí sinh. Bởi ở những trường tốp cao, yêu cầu cao về ngoại ngữ, thí sinh chỉ cần đạt IELTS 6.0-6.5 đã được quy đổi 8-8.5/10 điểm.
Ở các trường khối kĩ thuật, mức quy đổi này còn cao hơn. Ví dụ, IELTS 6.5 đã được quy đổi tương đương 9.5/10 điểm tại ĐH Bách khoa Hà Nội.
TS Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh nói: “Việc các trường ĐH, đặc biệt là những đơn vị có bộ phận chuyên trách về khảo thí, chủ động nghiên cứu kĩ lưỡng để đưa ra một “bàn cân” quy đổi hợp lí không chỉ thể hiện quyền tự chủ, mà còn là trách nhiệm đạo đức nhằm điều hòa sự khác biệt giữa hai hệ thống đánh giá, tạo ra cơ hội cạnh tranh công bằng và thuyết phục nhất cho mọi thí sinh”.
Trong khi đó, phổ điểm thi tốt nghiệp THPT môn tiếng Anh năm nay dự báo chỉ ở 5,5-6,0/10 điểm. Một chuyên gia tuyển sinh tại trường ĐH lớn ở Hà Nội nhận định, việc đạt 5.5-6.0 IELTS để được quy đổi 7-8 điểm ở nhiều trường dễ hơn đạt 7-8 điểm tại kì thi tốt nghiệp THPT năm 2026.
Năm nay số lượng thí sinh đăng kí quy đổi chứng chỉ ngoại ngữ tại các trường ĐH tiếp tục gia tăng. Để kiểm soát và giảm thiểu tối đa sai lệch giữa điểm thi tốt nghiệp THPT môn tiếng Anh và quy đổi chứng chỉ quốc tế, quy trình làm đề đòi hỏi khắt khe từ khâu thử nghiệm, cân chỉnh chuyên môn đến các yếu tố chính sách.
Trước mắt, để đảm bảo quyền lợi lớn nhất cho thí sinh, TS Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh đề xuất một giải pháp mang tính linh hoạt và công bằng hơn. Theo đó, thay vì áp một mức quy đổi cứng nhắc, Bộ GD&ĐT sau khi công bố phổ điểm thống kê nên cho phép một biên độ (dải điểm) nhất định.
Dựa trên dải điểm đó, các trường ĐH sẽ sử dụng quyền tự chủ để quyết định và chốt mức điểm quy đổi phù hợp nhất với yêu cầu đầu vào của trường. Là bên sử dụng kết quả, các trường phải có trách nhiệm giải trình và công bố rõ ràng trước xã hội.