Nhà thơ Hữu Thỉnh ra mắt tiểu thuyết đầu tay ở tuổi 84

PV,

"Thép dưới cỏ" viết về sự kiện Tà Mây - Làng Vây, đề tài mà nhà thơ Hữu Thỉnh từng chấp bút từ năm 1968 nhưng bản thảo chưa bao giờ đến được với công chúng.

Đầu tháng 7, nhà thơ Hữu Thỉnh chính thức ra mắt tiểu thuyết đầu tay "Thép dưới cỏ" do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân phát hành. Cuốn sách viết về sự kiện Tà Mây - Làng Vây của binh chủng Tăng thiết giáp, được tác giả xem như món quà tri ân dành tặng độc giả, những người lính đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng đất mẹ, cùng các cựu chiến binh, thương bệnh binh từng có một thời thanh xuân "hoa lửa" đáng tự hào.

Bản thảo viết từ năm 1968 nhưng chưa từng được xuất bản

Ít ai biết sự kiện Tà Mây - Làng Vây đã được Hữu Thỉnh viết từ năm 1968, ngay sau khi chiến dịch vừa kết thúc. Ông kể lại, thời điểm đó binh chủng Tăng thiết giáp tổ chức một trại sáng tác cho năm anh em gồm Long Minh, Hoàng Đông, Văn Kha, Trần Khôi và Hữu Thỉnh. Nhóm tác giả lấy tài liệu kỹ lưỡng từ đoàn cán bộ, chiến sĩ của Tiểu đoàn 198 vừa từ miền Nam ra, sau đó mỗi người được phân công viết về một đơn vị hay một cá nhân trong đoàn.

Nhà thơ Hữu Thỉnh và con gái - đạo diễn Việt Thanh

Sau một tháng cặm cụi, bản thảo hoàn thành và được cơ quan chính trị tổ chức đọc xin ý kiến tập thể. Đọc từng bài thì hay, nhưng gộp tất cả vào một cuốn sách lại cần một "bàn tay" biên tập, mà hồi đó chẳng có ai được cử làm việc ấy. Cuốn sách cuối cùng không được ra mắt công chúng.

Gần 60 năm sau, khi bắt tay viết lại, nhà thơ không còn nhớ mình từng viết những gì vì không lưu giữ được một trang bản thảo nào. Ông bắt đầu "Thép dưới cỏ" từ hai bàn tay trắng. Điểm tựa duy nhất là cuốn "Lịch sử Binh chủng Tăng - Thiết giáp" của Quân đội nhân dân Việt Nam, trong đó sự kiện Tà Mây - Làng Vây chỉ được ghi lại chưa đến năm trang đánh máy. Hữu Thỉnh coi đó là một cái khung để tưởng tượng và hư cấu: Một số nguyên mẫu được văn học hóa để tô đậm dấu ấn lịch sử, còn hầu hết sự kiện và nhân vật đều là sản phẩm của sáng tạo.

Nhà thơ Hữu Thỉnh

Làng Vây của văn học, không phải bản sao của lịch sử

Cái khó của người viết, theo Hữu Thỉnh, nằm ở chỗ gần 60 năm qua đã kéo theo rất nhiều thay đổi về tầm nhìn, thị hiếu, cách cảm, cách nghĩ. Viết về Làng Vây hôm nay phải thỏa mãn nhu cầu của ngày hôm nay: người đọc không chỉ muốn biết những bí mật của Làng Vây mà còn muốn giải mã nó, không chỉ bằng lòng với một sự kiện mà còn muốn biết số phận những con người làm nên sự kiện ấy sau chiến tranh ra sao.

"Tôi đã dốc vào đây tất cả tình cảm của tôi sau 13 năm sống và phục vụ trong Binh chủng Tăng - Thiết giáp, và xem đây là cách để trả món nợ lớn đối với cái nôi đã nuôi dưỡng tôi trưởng thành", nhà thơ chia sẻ.

Đánh giá về tác phẩm, Đại tá Nguyễn Văn Sáu, Phó Giám đốc kiêm Phó Tổng Biên tập Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, cho biết "Thép dưới cỏ" lấy nguyên liệu từ trận đánh Làng Vây nhưng tác giả không quá lệ thuộc vào diễn biến hay kết quả của trận đánh, cũng không bị giới hạn bởi góc nhìn của nhân vật Tôi trong truyện. Thay vào đó, ông sáng tạo trong việc mở rộng không gian, bối cảnh, đi sâu khai thác tâm trạng, tính cách và ứng xử của các nhân vật ở cả phía ta lẫn phía địch.

Cây đại thụ của thơ ca Việt Nam lần đầu thử sức với tiểu thuyết

Trước "Thép dưới cỏ", năm 2024 Hữu Thỉnh từng ra mắt "Giao hưởng Điện Biên" gồm 21 chương, năm phần, nhân kỷ niệm 70 năm chiến thắng Điện Biên Phủ. Tác phẩm sau đó nhận giải A văn học nghệ thuật, báo chí về đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng giai đoạn 2020-2025 do Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam tổ chức.

Nhà thơ Hữu Thỉnh sinh năm 1942 tại Vĩnh Phúc, tốt nghiệp khóa đầu trường Viết văn Nguyễn Du. Ông tham gia Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam từ khóa thứ ba đến khóa thứ tám, giữ chức Chủ tịch Hội bốn nhiệm kỳ liên tiếp từ năm 2000 đến 2020, đồng thời là Đại biểu Quốc hội khóa 10 và 11, từng làm Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam.

Sáng tác ở nhiều thể loại gồm thơ, truyện ký, tiểu luận phê bình, nhưng ông thành công nhất với thơ, sở hữu gần 20 tập. Nổi tiếng nhất là bài "Sang thu", từng được đưa vào giảng dạy trong chương trình ngữ văn phổ thông. Ở mảng trường ca, ông có "Đường tới thành phố" (1979), "Trường ca biển" (1994), "Sức bền của đất" (2004), "Trăng Tân Trào" (2016) và "Giao hưởng Điện Biên" (2024).

Chia sẻ