Đề xuất hơn 400 xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh có thể dùng lại khi chuyển viện

Như Loan/VTC News,

Bộ Y tế đề xuất liên thông hơn 400 xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh để bác sĩ được dùng lại kết quả còn giá trị, giảm xét nghiệm lặp lại cho người bệnh BHYT.

Đề xuất trên nằm trong dự thảo thông tư quy định về danh mục dịch vụ cận lâm sàng và điều kiện sử dụng kết quả khi liên thông giữa các cơ sở khám chữa bệnh bảo hiểm y tế.

Theo dự thảo, hơn 400 loại xét nghiệm thuộc các nhóm hóa sinh, huyết học - truyền máu, vi sinh - ký sinh trùng cùng các dịch vụ điện quang sẽ được đưa vào danh mục liên thông. Phạm vi này bao gồm cả kết quả và dữ liệu hình ảnh của X-quang, CT, MRI.

Nếu kết quả đã có vẫn còn giá trị và đáp ứng yêu cầu chuyên môn, bác sĩ có thể sử dụng lại thay vì chỉ định người bệnh thực hiện từ đầu.

Đây không phải lần đầu Bộ Y tế đặt vấn đề công nhận kết quả xét nghiệm giữa các cơ sở khám chữa bệnh. Năm 2017, Bộ ban hành danh mục xét nghiệm áp dụng để liên thông và công nhận kết quả. Tuy nhiên, dự thảo lần này mở rộng đáng kể phạm vi áp dụng, đồng thời quy định cụ thể hơn về thời gian và điều kiện sử dụng.

Với xét nghiệm, thời gian sử dụng kết quả được tính từ thời điểm lấy mẫu bệnh phẩm. Với điện quang, thời gian được tính từ khi thực hiện kỹ thuật. Không phải mọi kết quả đã làm đều mặc nhiên được sử dụng lại.

Cơ sở khám chữa bệnh phải bảo đảm kỹ thuật được thực hiện tại đơn vị có giấy phép hoạt động, tuân thủ quy trình chuyên môn của Bộ Y tế, đồng thời bảo đảm chất lượng, độ chính xác, độ tin cậy và tính kịp thời của kết quả.

Thông tin nhận dạng người bệnh, thời gian lấy mẫu, người lấy mẫu, thời gian thực hiện và người ký kết quả cũng phải được ghi nhận đầy đủ. Quan trọng nhất, quyền quyết định vẫn thuộc về bác sĩ.

Bác sĩ sẽ đánh giá kết quả cũ có còn phù hợp với tình trạng hiện tại hay không, có đáp ứng yêu cầu chuyên môn hay cần thực hiện lại. Người ra quyết định cũng chịu trách nhiệm về việc sử dụng hoặc chỉ định làm lại dịch vụ cận lâm sàng.

Cách tiếp cận này nhằm tránh tình trạng áp dụng máy móc một kết quả chỉ vì nó nằm trong thời hạn được phép sử dụng.

Người dân đăng ký khám bệnh tại một cơ sở y tế ở Hà Nội. (Ảnh minh hoạ: Như Loan)

Dự thảo quy định thời gian sử dụng tối đa khác nhau tùy từng loại xét nghiệm , dựa trên đặc điểm và khả năng thay đổi của chỉ số.

Chẳng hạn, kết quả axit uric có thời gian sử dụng tối đa 168 giờ, tương đương 7 ngày. Urê máu có thời gian sử dụng 24 giờ, trong khi HbA1c có thể được sử dụng trong 60 ngày.

Điều này có ý nghĩa đặc biệt với những người phải khám nhiều chuyên khoa hoặc chuyển từ tuyến này sang tuyến khác.

Một bệnh nhân vừa làm xét nghiệm, chụp CT tại bệnh viện tuyến dưới rồi được chuyển lên tuyến trên có thể không phải tiếp tục trải qua quy trình lấy máu, chờ kết quả hoặc chụp lại nếu dữ liệu trước đó vẫn đáp ứng yêu cầu điều trị.

Với người cao tuổi, người bệnh nặng hoặc những trường hợp phải di chuyển quãng đường xa, việc giảm một lần lấy máu hay một lần chụp chiếu không chỉ là câu chuyện chi phí. Đó còn là thời gian chờ đợi, công sức đi lại và cảm giác mệt mỏi sau mỗi lần thực hiện thủ thuật, kỹ thuật.

Việc hạn chế xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh lặp lại cũng có thể giúp giảm tình trạng người bệnh phải chờ đợi lâu tại các bệnh viện đông bệnh nhân.

Đằng sau đề xuất liên thông kết quả còn là một bài toán lớn hơn về chi phí khám chữa bệnh. Theo thống kê được Bộ Y tế nêu trong dự thảo, chi phí xét nghiệm và cận lâm sàng tại Việt Nam trong năm qua chiếm hơn 19% tổng chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế, tương đương gần 30.000 tỷ đồng.

Khi một xét nghiệm còn giá trị nhưng được thực hiện lại chỉ vì kết quả chưa được chia sẻ hoặc chưa có cơ chế công nhận giữa các cơ sở, chi phí không chỉ phát sinh từ quỹ BHYT.

Người bệnh cũng phải trả thêm thời gian, công sức và những khoản chi ngoài dự kiến. Vì vậy, liên thông dữ liệu cận lâm sàng được kỳ vọng giúp thay đổi cách các cơ sở khám chữa bệnh khai thác kết quả đã có. Thay vì bắt đầu lại từ đầu mỗi khi người bệnh đến một cơ sở khác, bác sĩ có thể xem xét những dữ liệu đã được thực hiện trước đó và chỉ yêu cầu làm thêm khi thực sự cần thiết.

Nếu được triển khai đồng bộ, đây cũng là một bước tiến trong việc kết nối dữ liệu y tế giữa các bệnh viện, đồng thời góp phần sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực của hệ thống khám chữa bệnh và quỹ bảo hiểm y tế.

Với người bệnh, lợi ích dễ nhận thấy nhất có thể bắt đầu từ những điều rất nhỏ: bớt một lần lấy máu, bớt một lần chờ kết quả, bớt một lần di chuyển và bớt một khoản chi không cần thiết.

Nhưng khi những lần làm lại ấy được cộng lại trên quy mô hàng triệu lượt khám chữa bệnh, khoản tiết kiệm cho người dân và quỹ bảo hiểm y tế có thể không còn nhỏ.

Chia sẻ