Bác sĩ tiên phong đặt nền móng phát triển lĩnh vực y học bào thai Việt Nam: "Tôi không muốn đo thành công bằng số ca can thiệp bào thai"
Trong Y học Bào thai, một thủ thuật hoàn thành về mặt kỹ thuật chưa phải điểm kết thúc. BS Sim cho rằng kết quả phải được nhìn theo cả một chuỗi.
Năm 2025, 1 cặp vợ chồng lặn lội từ Nghệ An ra Hà Nội với niềm mong giữ con đau đáu. Sản phụ tên N.T.H (sinh năm 1987), mang thai 5 lần nhưng đã từng bị mất thai 3 lần. Lần này chị trải qua 1 thai kỳ với nhiều nguy cơ: Giảm hormone tuyến giáp, có nhóm máu Rh -, kháng thể Anti D trong huyết thanh cao, bị u xơ tử cung, mang gen tăng đông.
Trước đó, chị từng sảy thai 2 lần khi mới được 6 tuần. 2 lần sinh thường thì con thứ 2 bị vàng da sau sinh, thiếu máu (hiện khỏe mạnh bình thường). Thai lần 3 được 37 tuần sinh mổ năm 2020 nhưng bị phù thai không rõ nguyên nhân.

Biết mình có thai kỳ kém suôn sẻ, ngay khi thai được 7 tuần, chị H. trở lại Bệnh viện Huyết học Truyền máu Trung ương thăm khám, được giới thiệu đến TS.BS Nguyễn Thị Sim (Giám đốc Trung tâm Y học bào thai Bệnh viện Đại học Phenikaa). Bác sĩ Sim nhận lời quản lý thai cho chị H vì đã tìm ra nguyên nhân và phương pháp điều trị bệnh lý này, nên hành trình đi đi về về Nghệ An - Hà Nội của 2 vợ chồng chị bắt đầu từ đó.
Theo dõi sát mỗi 2 tuần 1 lần khám, đến tuần thai thứ 25, BS Sim siêu âm phát hiện em bé bị thiếu máu. Do mẹ có anti D chống lại kháng nguyên hồng cầu của con,bất đồng này làm tan máu thai nhi gây thiếu máu. Khi đó tuổi thai còn nhỏ, chưa thể đem ra ngoài để nuôi được. Nên BS Sim đã đưa ra đầy quyết đoán: cần phải truyền máu cho thai nhi chữa bệnh cho em bé ngay khi nằm trong bụng mẹ để không bị thai lưu như các lần trước nữa. Lúc đó, thai được 25 tuần 4 ngày.
Sau đó 3 tuần, em bé trong bụng lại tiếp tục thiếu máu do kháng nguyên của mẹ lại tiếp tục gây vỡ hồng cầu thai nhi. Sự quyết đoán của bác sĩ lại được đưa ra 1 lần nữa: Truyền máu lần 2 cho thai nhi. Lúc này thai được 28 tuần.
Sau 2 lần truyền máu, thai nhi được cung cấp một tuần hoàn đủ như những em bé khác. Các triệu chứng lâm sàng ổn định.

Đến khi thai được 30 tuần 4 ngày, tình trạng thai nhi bị thiếu máu lại tiếp diễn. Chắt chiu từng cơ hội mong manh, chắt chiu từng ngày mong con được lớn thêm trong bụng mẹ, BS Sim quyết định truyền máu cho thai nhi lần 3.
Cho đến giờ, BS Sim vẫn còn nhớ như in ngày hôm ấy. Đồng hồ điểm 14h ngày 10/9/2025, hành trình truyền máu cho em bé trong bụng mẹ diễn ra. Nhưng sau đó có dấu hiệu suy thai. Không thể để em bé gặp nguy hiểm, nữ bác sĩ ngay lập tức chỉ định chuyển mổ cấp cứu. Chị cùng ekip Gây mê hồi sức và sơ sinh của mình tại PhenikaaMec triển khai mổ lấy thai cấp cứu, ra 1 bé trai nặng 1,5kg. Trẻ được chuyên gia sơ sinh tiến hành hồi sức ngay tại phòng mổ. Con hồng hào, được chuyển khoa sơ sinh theo dõi.
Đây chỉ là một ca bệnh gần nhất trong vô số các trường hợp được BS Sim thăm khám, điều trị. "Với sự tiến bộ của Y học hiện đại, tình trạng này ngày nay đã có thể được điều trị bằng kỹ thuật truyền máu cho thai nhi qua dây rốn. Đây là một thủ thuật chuyên sâu trong lĩnh vực Y học bào thai. Dưới hướng dẫn siêu âm, bác sĩ sẽ đưa kim vào tĩnh mạch rốn để truyền lượng máu phù hợp. Kỹ thuật này giúp ổn định tình trạng thiếu máu của thai nhi, ngăn ngừa các biến chứng nguy hiểm có thể ảnh hưởng đến sự phát triển và tính mạng của em bé", BS Sim nói.
Một định nghĩa khác về thành công với Y học Bào thai
Một Trung tâm Y học Bào thai thực hiện 100 ca can thiệp mỗi năm có chắc tốt hơn một trung tâm thực hiện 50 ca? Theo TS.BS Nguyễn Thị Sim, nếu chỉ có hai con số ấy thì chưa thể trả lời. Bởi số lượng thủ thuật không cho biết bao nhiêu bệnh nhân được chẩn đoán chính xác, bao nhiêu ca thực sự cần can thiệp, bao nhiêu người mẹ an toàn và những đứa trẻ sau khi chào đời phát triển như thế nào.
Trong Y học Bào thai, một thủ thuật hoàn thành về mặt kỹ thuật chưa phải điểm kết thúc. BS Sim cho rằng kết quả phải được nhìn theo cả một chuỗi:
Chẩn đoán đúng.
Lựa chọn đúng bệnh nhân.
Can thiệp đúng chỉ định.
Đúng thời điểm.
Bảo đảm an toàn cho người mẹ.
Đạt kết quả sơ sinh tốt.
Và tiếp tục theo dõi đứa trẻ lâu dài.
Nếu chỉ đếm số ca, hệ thống có thể vô tình tạo động lực để "làm nhiều hơn".
Nhưng mục tiêu của y học không phải làm nhiều thủ thuật hơn. Mục tiêu là tạo ra kết quả tốt hơn cho người bệnh.

Đứa trẻ không biến mất sau phòng sinh
“Quan điểm ấy cũng thay đổi cách tổ chức một Trung tâm Y học Bào thai. Bác sĩ can thiệp phải biết trước năng lực NICU. Phải biết nếu đứa trẻ sinh non thì ai sẽ tiếp nhận. Nếu trẻ có bệnh tim, bệnh phổi, bệnh tiết niệu hay vấn đề huyết học thì chuyên khoa nào sẽ tiếp tục điều trị”, TS.BS Sim nói.
Một quyết định trước sinh đôi khi chỉ có thể được đánh giá đầy đủ nhiều tháng, thậm chí nhiều năm sau sinh. Bởi vậy, dữ liệu follow-up không phải phần phụ. Nó là câu trả lời cho câu hỏi: Những gì chúng ta làm trong tử cung có thực sự mang lại tương lai tốt hơn cho đứa trẻ hay không?
“Đó cũng là triết lý của tôi cũng như Trung tâm Y học Bào thai PhenikaaMec hướng tới. Không chạy theo số lượng can thiệp như một chỉ dấu thương hiệu. Không coi việc bổ sung một kỹ thuật mới mặc nhiên là một bước tiến. Mỗi kỹ thuật chỉ có ý nghĩa khi nằm trong hệ thống chẩn đoán, lựa chọn bệnh nhân, hội chẩn đa chuyên khoa, quản trị an toàn và đánh giá kết quả”, TS.BS Sim cho hay.
Bởi vậy, theo nữ tiến sĩ, nếu phải chọn một con số để nói về thành công của Y học Bào thai, có lẽ đó không nên là bao nhiêu thủ thuật đã được thực hiện. Mà phải là: Bao nhiêu người mẹ an toàn và bao nhiêu đứa trẻ có một tương lai tốt hơn nhờ quyết định mà bác sĩ đã đưa ra…