5 năm không thể tốt nghiệp đại học, nam sinh đi khám phát hiện mắc bệnh tâm thần
Nam sinh 23 tuổi chậm tốt nghiệp đại học suốt 5 năm, bị gia đình cho là lười biếng, chỉ khi đi khám mới phát hiện mắc rối loạn trầm cảm dai dẳng.
Nam sinh 23 tuổi được người nhà đưa đi khám sau thời gian học hành kéo dài bất thường. Sau 5 năm, cậu vẫn chưa hoàn thành chương trình đại học, sống thu mình, ít giao tiếp và gần như mất động lực học tập. Gia đình, đặc biệt là bố mẹ, nhiều lần trách móc, cho rằng cậu lười biếng, thiếu ý chí. Bản thân nam sinh cũng tin điều đó, nghĩ mình “không đủ cố gắng”.
Theo khai thác bệnh sử, tình trạng bắt đầu từ cuối cấp ba, khi thanh niên này dần mất hứng thú với việc học, khó tập trung, dễ chán nản. Khi bước vào đại học, tình trạng rõ rệt hơn, trì hoãn kéo dài, né tránh thi cử và thuyết trình, dẫn đến việc học sa sút. Càng thất bại, cậu càng thu mình, hạn chế giao tiếp xã hội.
Để đối phó với cảm giác thất bại, chàng trai tìm đến trò chơi điện tử như một cách giải tỏa. Trong thế giới ảo, cậu có thể đạt được cảm giác thành tựu thay thế. Tuy nhiên, gia đình lại nhìn nhận đây là dấu hiệu “nghiện game”, tiếp tục chỉ trích và gây áp lực.
Sau 5 năm, cậu vẫn chưa hoàn thành chương trình đại học, sống thu mình, ít giao tiếp và gần như mất động lực học tập.
Bác sĩ Nguyễn Viết Chung, trưởng khoa Sức khoẻ tâm thần, Bệnh viện E nhận định, một vòng xoắn bệnh lý hình thành, thiếu động lực dẫn đến thất bại, bị chỉ trích khiến tự ti, từ đó né tránh và tìm đến game, làm giảm thêm chức năng học tập, tiếp tục thất bại. Vòng lặp này lặp đi lặp lại suốt nhiều năm.
Thời điểm khám, bệnh nhân có khí sắc giảm kéo dài nhưng không bùng phát thành cơn trầm cảm nặng. Cậu mất hứng thú với nhiều hoạt động, thiếu năng lượng, giảm động lực rõ rệt và duy trì suy nghĩ tiêu cực về bản thân như “kém cỏi”, “không làm được việc gì đến nơi đến chốn”. Xu hướng né tránh các nhiệm vụ khó và môi trường đánh giá ngày càng rõ.
Dựa trên các tiêu chí lâm sàng, bác sĩ chẩn đoán bệnh nhân mắc rối loạn trầm cảm dai dẳng, một dạng trầm cảm kéo dài ít nhất hai năm với mức độ không quá nặng nhưng âm ỉ. Trường hợp này đã diễn tiến suốt 6 năm, gây suy giảm rõ rệt chức năng học tập và xã hội.
Về cơ chế, tình trạng này liên quan đến rối loạn các chất dẫn truyền thần kinh như dopamine và serotonin, khiến người bệnh giảm cảm giác phần thưởng, thiếu động lực và duy trì trạng thái khí sắc thấp. Khác với trầm cảm nặng thường có các đợt bùng phát rõ rệt, rối loạn này âm thầm làm giảm “nền” hoạt động tâm thần trong thời gian dài.
Song song đó, yếu tố tâm lý đóng vai trò quan trọng. Những thất bại ban đầu dần được nội tại hóa thành niềm tin tiêu cực về bản thân, khiến bệnh nhân giảm nỗ lực, né tránh thử thách và vô tình củng cố thêm thất bại. Gia đình với cách nhìn nhận mang tính phán xét như “lười”, “kém” lại trở thành yếu tố duy trì bệnh, khi làm gia tăng cảm giác xấu hổ và xu hướng rút lui.
Các chuyên gia cho rằng điều trị cần kéo dài và kết hợp nhiều phương pháp. Trong đó, liệu pháp nhận thức, hành vi giúp người bệnh điều chỉnh suy nghĩ sai lệch, thay đổi hành vi né tránh. Kích hoạt hành vi được áp dụng nhằm từng bước khôi phục các hoạt động có ý nghĩa, từ đó cải thiện hệ thống phần thưởng tự nhiên. Thuốc chống trầm cảm có thể được cân nhắc để nâng mức năng lượng nền và giảm trì trệ tâm thần.
Đáng chú ý, can thiệp gia đình giữ vai trò then chốt. Việc giúp người thân hiểu đây là một rối loạn tâm thần, không phải vấn đề ý chí, sẽ góp phần giảm chỉ trích và tăng hỗ trợ phù hợp.
Theo bác sĩ, tiên lượng cần khoảng 1,5 đến 2 năm điều trị tích cực do bệnh đã kéo dài nhiều năm, ảnh hưởng đến nhận thức, kỹ năng xã hội và hình thành các niềm tin tiêu cực bền vững. Tuy nhiên, nếu can thiệp đúng cách, người bệnh vẫn có khả năng phục hồi và quay lại học tập, làm việc.
Rối loạn trầm cảm dai dẳng không gây sụp đổ đột ngột nhưng âm thầm bào mòn cuộc sống, khiến người bệnh dễ bị hiểu lầm là thiếu nỗ lực. Đây cũng là lý do nhiều trường hợp chỉ được phát hiện khi đã kéo dài nhiều năm.