DIỄN BIẾN DỊCH NGÀY 20/2: Chủng Delta và Omicron đồng hành sẽ khiến ca mắc, nhập viện và chuyển nặng đều tăng

 diễn biến
  • Diễn biến đã gỡ hoặc không tồn tại!
    Vui lòng xem tiếp các diễn biến mới nhất dưới đây hoặc quay về link bài gốc
  • 14:40:00 20/02/2022

    Chủng Delta và Omicron đồng hành sẽ khiến ca mắc, nhập viện và chuyển nặng đều tăng

    Tại TP.HCM, ghi nhận từ ngày 12 đến 18-2, số ca mới là 2.934 ca, tăng gấp 3 lần so với 7 ngày trước (ngày 5 đến 11-2), đồng thời số ca nhập viện cũng có khuynh hướng tăng nhẹ.

    Tuy nhiên, số bệnh nặng vẫn đang giảm và số ca tử vong vẫn ở mức thấp. Ngày 19-2 ghi nhận 2 ca tử vong nhưng là bệnh nhân từ tỉnh thành khác chuyển đến TP để điều trị.

    Hiện tượng số ca mắc mới tăng ở cả 22/22 quận, huyện và TP Thủ Đức đã được dự báo trước khi thành phố khôi phục các hoạt động lao động sản xuất, học tập cũng như các sinh hoạt xã hội.

    Bên cạnh đó, TP.HCM cũng đã phát hiện những ca bệnh mang biến chủng Omicron trong cộng đồng.

    CDC TP.HCM cho biết theo nghiên cứu trên thế giới, sự lưu hành đồng thời cả 2 biến chủng Delta và Omicron sẽ làm cho số ca mắc mới tăng nhanh chóng, theo đó là số ca nhập viện và bệnh nặng cũng có thể gia tăng.

    Những biện pháp dự phòng không dùng thuốc như 5K và tiêm chủng (bao gồm cả tiêm nhắc lại) vẫn là những biện pháp được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng nhằm làm chậm lại tốc độ lây lan của dịch.

    "Do đó người dân cần tiếp tục tuân thủ các biện pháp phòng bệnh theo 5K. Thực hiện các biện pháp bảo vệ người thuộc nhóm nguy cơ và tiêm vắc xin COVID-19 khi đến lượt" - thông báo của CDC TP.HCM tối 19-2 cho biết.

    Theo Tuổi trẻ

    Chia sẻ lên Facebook Copy link dẫnĐã copy!
    Chia sẻ
  • 10:00:00 20/02/2022

    9 hướng dẫn F0 điều trị tại nhà cần biết

    1. F0 nào được điều trị tại nhà?

    Theo "Hướng dẫn quản lý người mắc COVID-19 tại nhà" ban hành kèm theo tại Quyết định 261/QĐ-BYT của Bộ Y tế, người bệnh mắc COVID-19 được quản lý, điều trị tại nhà nếu đáp ứng điều kiện sau đây:

    Người mắc COVID-19 (được khẳng định nhiễm SARS-CoV-2 bằng xét nghiệm realtime RT-PCR hoặc test nhanh kháng nguyên theo quy định hiện hành) không có triệu chứng lâm sàng; hoặc có triệu chứng lâm sàng ở mức độ nhẹ: như sốt, ho khan, đau họng, nghẹt mũi, mệt mỏi, đau đầu, đau mỏi cơ, tê lưỡi; tiêu chảy, chảy mũi, mất mùi, mất vị;

    Người mắc COVID-19 không có các dấu hiệu của viêm phổi hoặc thiếu oxy; nhịp thở < 20 lần/phút; SpO2 > 96% khi thở khí trời; không có thở bất thường như thở rên, rút lõm lồng ngực, phập phồng cánh mũi, thở khò khè, thở rít ở thì hít vào.

    Người mắc COVID-19 không mắc bệnh nền, hoặc có bệnh nền nhưng đang được điều trị ổn định.

    Cùng đó người mắc COVID-19 điều trị tại nhà có thể tự chăm sóc bản thân như ăn uống, tắm rửa, giặt quần áo, vệ sinh và có thể tự theo dõi tình trạng sức khỏe theo hướng dẫn của nhân viên y tế; Có khả năng liên lạc với nhân viên y tế để được theo dõi, giám sát và khi có tình trạng cấp cứu: Có khả năng giao tiếp và sẵn có phương tiện liên lạc như điện thoại, máy tính…

    Bộ Y tế lưu ý trong trường hợp người mắc COVID-19 không có khả năng tự chăm sóc, gia đình phải có người chăm sóc đáp ứng các yêu cầu trên.

    8 hướng dẫn F0 điều trị tại nhà cần biết - Ảnh 1.

    Cán bộ y tế hỗ trợ, hướng dẫn F0 điều trị tại nhà theo dõi sức khoẻ

    2. Những việc F0 cần làm để theo dõi sức khỏe hàng ngày

    Theo Hướng dẫn quản lý người mắc COVID-19 tại nhà của Bộ Y tế, cơ sở quản lý sức khỏe người mắc COVID-19 hướng dẫn người mắc COVID-19 thực hiện tự theo dõi sức khỏe và điền thông tin vào Phiếu theo dõi sức khỏe người mắc COVID-19 tại nhà như sau:

    Thời gian: 2 lần/ngày vào buổi sáng và buổi chiều hoặc khi có các dấu hiệu, triệu chứng cần chuyển viện cấp cứu, điều trị.

    Nội dung: 

    - Chỉ số: nhịp thở, mạch, nhiệt độ, SpO2 và huyết áp (nếu có thể).

    - Các triệu chứng: mệt mỏi, ho, ho ra đờm, ớn lạnh/gai rét, viêm kết mạc (mắt đỏ), mất vị giác hoặc khứu giác, tiêu chảy (phân lỏng/đi ngoài); Ho ra máu, thở dốc hoặc khó thở, đau tức ngực kéo dài, lơ mơ, không tỉnh táo; 

    - Các triệu chứng khác như: Đau họng, nhức đầu, chóng mặt, chán ăn, buồn nôn và nôn, đau nhức cơ,…

    Bộ Y tế lưu ý người mắc COVID-19 nên:

    • Nghỉ ngơi, vận động thể lực nhẹ (phù hợp với tình trạng sức khỏe);
    • Tập thở ít nhất 15 phút mỗi ngày;
    • Uống nước thường xuyên, không đợi đến khi khát mới uống nước;
    • Không bỏ bữa;
    • Tăng cường dinh dưỡng: ăn đầy đủ chất, ăn trái cây, uống nước hoa quả…
    • Suy nghĩ tích cực, duy trì tâm lý thoải mái.

    3. F0 điều trị tại nhà theo dõi nhịp thở thế nào?

    F0 đang điều trị tại nhà có thể tự theo dõi nhịp thở để sớm phát hiện các bất thường. Theo đó,

    Đối với người lớn: nhịp thở ≥ 20 lần/phút; Đối với trẻ em từ 1 đến dưới 5 tuổi: nhịp thở ≥ 40 lần/phút;

    Trẻ từ 5 – dưới 12 tuổi: nhịp thở ≥ 30 lần/phút cần báo ngay với cơ sở quản lý người nhiễm COVID-19 tại nhà; trạm y tế xã, phường; hoặc trạm y tế lưu động, Trung tâm vận chuyển cấp cứu… để được xử trí cấp cứu và chuyển viện kịp thời:

    Bộ Y tế lưu ý ở trẻ em cần đếm đủ nhịp thở trong 1 phút khi trẻ nằm yên không khóc.

    4. Danh mục thuốc điều trị ngoại trú cho F0 tại nhà

    Theo hướng dẫn của Bộ Y tế gồm có:

    - Về thuốc hạ sốt, giảm đau

    Paracetamol: 

    • Cho trẻ em: gói bột hoặc cốm pha hỗn dịch uống hàm lượng 80 mg, 100 mg, 150 mg hoặc 250 mg;
    • Cho người lớn: viên nén 250 mg hoặc 500 mg.

    - Thuốc kháng virus: lựa chọn một trong các thuốc sau:

    • Favipiravir 200 mg, 400 mg (viên).
    • Molnupiravir 200 mg, 400 mg (viên).

    - Thuốc chống viêm corticosteroid đường uống: Thuốc không phát sẵn cho người mắc COVID-19, thuốc phải được bác sĩ kê đơn theo quy định tại Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị COVID-19 do Bộ Y tế ban hành và chỉ kê đơn điều trị trong một ngày trong thời gian chờ chuyển đến cơ sở điều trị người bệnh COVID-19. Lựa chọn một trong các thuốc sau:

    • Dexamethason 0,5 mg (viên nén).
    • Methylprednisolon 16 mg (viên nén).

    - Thuốc chống đông máu đường uống: Thuốc không phát sẵn cho người mắc COVID-19, thuốc phải được bác sĩ kê đơn theo quy định tại Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị COVID-19 do Bộ Y tế ban hành và chỉ kê đơn điều trị trong một ngày trong thời gian chờ chuyển đến cơ sở điều trị người bệnh COVID-19. Lựa chọn một trong các thuốc sau:

    • Rivaroxaban 10 mg (viên).
    • Apixaban 2,5 mg (viên).
    8 hướng dẫn F0 điều trị tại nhà cần biết - Ảnh 2.

    Danh mục thuốc điều trị ngoại trú cho F0 tại nhà Đồ hoạ: Kim Dung

    Bộ Y tế lưu ý về thuốc kháng virus, thuốc chống viêm corticosteroid và thuốc chống đông máu: Thuốc kháng virus dùng sớm ngay sau khi có chẩn đoán xác định mắc COVID-19, tốt nhất trong 5 ngày đầu kể từ khi khởi phát triệu chứng. Ưu tiên sử dụng cho những trường hợp có triệu chứng hoặc có nguy cơ cao bệnh tiến triển nặng như người trên 65 tuổi, chưa tiêm đủ liều vaccine, có bệnh nền không ổn định…

    Chỉ định điều trị kết hợp đồng thời thuốc chống viêm corticosteroid và thuốc chống đông máu khi người bệnh COVID-19 có bất kỳ một trong các dấu hiệu sớm của suy hô hấp và chỉ kê đơn điều trị trong một ngày trong thời gian chờ chuyển đến cơ sở điều trị người bệnh COVID-19.

    5. F0 điều trị tại nhà dùng thuốc hạ sốt thế nào?

    - Đối với người lớn: > 38,5 độ hoặc đau đầu, đau người nhiều: uống mỗi lần 1 viên thuốc hạ sốt như paracetamol 0,5 g, có thể lặp lại mỗi 4-6h, ngày không quá 4 viên, uống oresol nếu ăn kém/giảm hoặc có thể dùng uống thay nước.

    - Đối với trẻ em: > 38,5 độ, uống thuốc hạ sốt như paracetamol liều 10-15 mg/kg/lần, có thể lặp lại mỗi 4-6h, ngày không quá 4 lần.

    Nếu sau khi dùng thuốc hạ sốt 2 lần không đỡ, yêu cầu người mắc COVID-19 thông báo ngay cho Cơ sở quản lý người mắc COVID-19 tại nhà để được xử trí.

    Nếu F0 bị ho thì dùng thuốc giảm ho khi ho khan nhiều.

    6. Các dấu hiệu suy hô hấp F0 cần biết

    - Khó thở, thở hụt hơi, hoặc khó thở tăng lên khi vận động (đứng lên, đi lại trong nhà) hoặc ở trẻ em có dấu hiệu thở bất thường: thở rên, rút lõm lồng ngực, phập phồng cánh mũi, khò khè, thở rít thì hít vào, và/hoặc

    - Nhịp thở (ở trẻ em đếm đủ nhịp thở trong một phút khi trẻ nằm yên không khóc):

    • ≥ 20 lần/phút ở người lớn;
    • ≥ 30 lần/phút ở trẻ em từ 5 - dưới 12 tuổi;
    • ≥ 40 lần/phút ở trẻ em từ 1 đến dưới 5 tuổi;

    Và/hoặc SpO2 ≤ 96% (khi phát hiện bất thường đo lại lần 2 sau 30 giây đến một phút, khi đo yêu cầu giữ yên vị trí đo)

    7. 11 dấu hiệu F0 điều trị tại nhà cần được xử trí cấp cứu và chuyển viện kịp thời

    Hướng dẫn của Bộ Y tế nêu rõ nội dung theo dõi sức khỏe hàng ngày gồm: Chỉ số: nhịp thở, mạch, nhiệt độ, SpO2 và huyết áp (nếu có thể).

    Các triệu chứng: mệt mỏi, ho, ho ra đờm, ớn lạnh/gai rét, viêm kết mạc (mắt đỏ), mất vị giác hoặc khứu giác, tiêu chảy (phân lỏng/đi ngoài); Ho ra máu, thở dốc hoặc khó thở, đau tức ngực kéo dài, lơ mơ, không tỉnh táo; Các triệu chứng khác như: Đau họng, nhức đầu, chóng mặt, chán ăn, buồn nôn và nôn, đau nhức cơ,…

    Theo hướng dẫn do Bộ Y tế vừa ban hành, có 11 dấu hiệu người bệnh cần được xử trí cấp cứu và chuyển viện kịp thời. Khi phát hiện bất cứ một trong các dấu hiệu dưới đây, người bệnh cần phải báo cáo ngay với cơ sở quản lý người nhiễm COVID-19 tại nhà; trạm y tế xã, phường; hoặc trạm y tế lưu động, Trung tâm vận chuyển cấp cứu… để được xử trí cấp cứu và chuyển viện kịp thời:

    1) Khó thở, thở hụt hơi, hoặc ở trẻ em có dấu hiệu thở bất thường: thở rên, rút lõm lồng ngực, phập phồng cánh mũi, khò khè, thở rít thì hít vào.

    2) Nhịp thở

    • Người lớn: nhịp thở ≥ 20 lần/phút
    • Trẻ từ 1 đến dưới 5 tuổi: Nhịp thở: ≥ 40 lần/phút,
    • Trẻ từ 5 – dưới 12 tuổi: nhịp thở: ≥ 30 lần/phút

    (Lưu ý ở trẻ em: đếm đủ nhịp thở trong 1 phút khi trẻ nằm yên không khóc).

    3) SpO2 ≤ 96% (trường hợp phát hiện chỉ số SpO2 bất thường cần đo lại lần 2 sau 30 giây đến 1 phút, khi đo yêu cầu giữ yên vị trí đo).

    4) Mạch nhanh > 120 nhịp/phút hoặc < 50 nhịp/phút.

    5) Huyết áp thấp: huyết áp tối đa < 90 mmHg, huyết áp tối thiểu < 60 mmHg (nếu có thể đo).

    6) Đau tức ngực thường xuyên, cảm giác bó thắt ngực, đau tăng khi hít sâu.

    7) Thay đổi ý thức: lú lẫn, ngủ rũ, lơ mơ, rất mệt/mệt lả, trẻ quấy khóc, li bì khó đánh thức, co giật.

    8) Tím môi, tím đầu móng tay, móng chân, da xanh, môi nhợt, lạnh đầu ngón tay, ngón chân.

    9) Không thể uống hoặc bú kém/giảm, ăn kém, nôn (ở trẻ em). Trẻ có biểu hiện hội chứng viêm đa hệ thống: sốt cao, đỏ mắt, môi đỏ, lưỡi dâu tây, ngón tay chân sưng phù nổi hồng ban...

    10) Mắc thêm bệnh cấp tính: sốt xuất huyết, tay chân miệng...

    11) Bất kỳ tình trạng bất ổn nào của người mắc COVID-19 mà thấy cần báo cơ sở y tế.

    8. F0 điều trị tại nhà được dỡ bỏ cách ly khi nào?

    Trong Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị COVID-19, những trường hợp F0 điều trị tại nhà sẽ được dỡ bỏ cách ly, điều trị tại nhà khi:

    - Thời gian cách ly, điều trị đủ 7 ngày và kết quả xét nghiệm nhanh kháng nguyên âm tính virus SARS-CoV-2 do nhân viên y tế thực hiện hoặc người bệnh tự thực hiện dưới sự giám sát của nhân viên y tế bằng ít nhất một trong các hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp qua các phương tiện từ xa.

    - Trong trường hợp sau 7 ngày kết quả xét nghiệm còn dương tính thì tiếp tục cách ly đủ 10 ngày đối với người đã tiêm đủ liều vaccine theo quy định và 14 ngày đối với người chưa tiêm đủ liều vaccine theo quy định.

    - Trạm Y tế nơi quản lý người bệnh chịu trách nhiệm xác nhận khỏi bệnh cho người bệnh.

    Theo quy định cũ ban hành trước đó, bệnh nhân COVID-19 tại nhà được dỡ bỏ cách ly khi đủ 10 ngày điều trị và xét nghiệm âm tính với SARS-CoV-2.

    9. Vệ sinh nơi ở, xử lý chất thải khi có F0 cách ly, điều trị tại nhà thế nào?

    - Cần bố trí bộ đồ ăn riêng cho người nhiễm COVID-19, nên sử dụng dụng cụ dùng một lần. Đồ ăn thừa và dụng cụ ăn uống dùng một lần bỏ vào túi đựng rác trong phòng riêng.

    - Rửa bát đĩa bằng nước nóng và xà phòng. Người nhiễm COVID-19 tự rửa bát đĩa trong phòng riêng. Nếu cần người chăm sóc hỗ trợ thì người chăm sóc mang găng khi thu dọn đồ ăn và rửa bát đĩa. Bát đĩa và đồ dùng ăn uống của người nhiễm sau khi rửa để ở vị trí riêng. Tốt nhất là để trong phòng người nhiễm.

    - Về xử lý đồ vải của F0, tốt nhất là người nhiễm có thể tự giặt quần áo của mình. Nếu cần người chăm sóc giặt. Đeo găng tay khi xử lý đồ vải của người nhiễm.

    - Giặt hoặc khử trùng túi giặt và giỏ đồ. Giặt bằng máy hoặc bằng tay với nước ấm nhất có thể. Sấy khô hoặc phơi khô hoàn toàn. Tháo găng, rửa tay sau khi xử lý đồ vải của người nhiễm.

    - Nên giặt riêng đồ của người nhiễm với đồ của người khác. Đặc biệt Bộ Y tế lưu ý "không giũ đồ bẩn cần giặt để hạn chế nguy cơ phát tán vi rút qua không khí"

    - Về vấn đề vệ sinh, tốt nhất là người nhiễm tự vệ sinh khu vực của mình. Để vệ sinh môi trường sạch sẽ cần làm sạch sàn nhà, tường và bề mặt sau đó lau bằng dung dịch khử khuẩn, rồi lau lại bằng nước sạch.

    - Bộ Y tế lưu ý nếu cần người chăm sóc hỗ trợ việc vệ sinh phòng, người chăm sóc mang găng trước khi vệ sinh.

    Theo Sức khỏe và Đời sống

    Chia sẻ lên Facebook Copy link dẫnĐã copy!
    Chia sẻ
  • 09:00:00 20/02/2022

    F0 không có triệu chứng, phổi vẫn trắng xoá hậu Covid-19

    Phổi trắng xoá sau Covid-19

    Bác sĩ Phan Xuân Trung – Trung tâm Y tế Hoà Hảo, TP.HCM cho biết thời gian qua người bệnh di chứng hậu Covid-19 đi kiểm tra ngày càng tăng. BS Trung từng tiếp nhận các trường hợp bị xơ phổi diễn tiến thậm chí người bệnh trẻ khi mắc Covid-19 không có triệu chứng nhưng khi khỏi bệnh thì phổi lại xơ dần.

    Trường hợp nam bệnh nhân tên N.N.V. 35 tuổi, mắc Covid-19 do lây từ vợ. Người bệnh đã tiêm hai mũi vắc xin và khi nhiễm bệnh không có triệu chứng nên điều trị tại nhà.

    Sau điều trị Covid-19, bệnh nhân lại rơi vào tình trạng hậu Covid-19 thường xuyên thấy khó thở, đi lại cũng mệt, lúc nào cũng thấy “ngộp”. Bệnh nhân tới kiểm tra sức khoẻ, bác sĩ cho chụp phổi để đánh giá tổn thương phổi thì hết sức bất ngờ vì phổi của bệnh nhân trắng xoá do tình trạng xơ phổi diễn tiến.

    Trường hợp của bà Phạm Thị T. trú tại Bình Chánh, TP.HCM cũng tương tự. Tháng 12/2021, bà T. bị nhiễm Covid-19. Sau khi khỏi bệnh, sức khoẻ bà T. kém đi trông thấy, lúc nào bà cũng mệt mỏi, khó thở. Khi leo lên cầu thang chỉ đi được 3, 4 bậc là bà phải dừng lại nghỉ.

    Bà T. đi khám hậu Covid-19, kết quả chụp X-quang cho thấy xơ phổi hậu Covid, tổn thương xơ phổi nặng hai bên. Tình trạng tổn thương dạng mô kẽ rải rác hai phổi, xơ rải rác hai phổi, giãn phế quản rải rác hai phổi. Bà T. phải điều trị dài ngày, đến nay chưa khỏi.

    TS BS Nguyễn Như Vinh – Trưởng khoa Thăm dò hô hấp, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM cho biết xơ phổi hậu Covid-19 là vấn đề rất lớn, nếu điều trị không kịp thời người bệnh sẽ bị suy hô hấp mãn tính, ảnh hưởng tới sức khoẻ của người bệnh. Đến nay khi nói tới xơ phổi bác sĩ cũng cảm thấy lo lắng vì việc điều trị khó.

    DIỄN BIẾN DỊCH NGÀY 20/2: Dịch liên tục &quot;lập đỉnh&quot;, Hà Nội mất 37 xã phường vùng xanh, tăng gần gấp đôi địa phương vùng vàng - Ảnh 1.

    Hình ảnh phổi của bệnh nhân trắng xoá do xơ phổi tiến triển.

    TS Vinh cho rằng hậu Covid-19 có tới 200 triệu chứng khác nhau, từ rụng tóc, tinh thần tới đột quỵ, tim mạch thì hồi hộp, đánh trống ngực, đau khớp. Người bệnh có tình trạng khó thở, mệt mỏi có thể do phổi tổn thương nhưng cũng có trường hợp phổi không có tổn thương đó là do mệt mỏi mãn tính. Nhiều bệnh nhân than thở ngày trước sức của họ được 10 thì giờ chỉ còn 7, 8 phần.

    BS Vinh cho biết virus  SARS-CoV-2 tấn công vào cơ quan hô hấp trong đó phổi bị tấn công nhiều nhất, tử vong do phổi tổn thương nặng, viêm hô hấp nặng. Vì vậy, người bệnh Covid-19 nặng trong giai đoạn dương tính thì hầu hết phổi bị tổn thương và sau Covid-19 triệu chứng phổi vẫn kéo dài.

    Nếu bệnh nhân khó thở kèm theo thiếu oxy cần đi kiểm tra phổi. Không phải ai khó thở cũng là xơ phổi có thể do căng thẳng, tâm lý, mất ngủ, mỏi cơ trong giai đoạn Covid-19 nhưng chúng ta không được chủ quan.

    Ngoài Covid-19, xơ phổi còn có nhiều nguyên nhân khác như bệnh nhân tiếp xúc với môi trường không tốt, tiếp xúc với hoá chất, tiếp xúc với bụi bẩn như công nhân trong mỏ than, mỏ đá, người làm trong nhà máy sản xuất dây thun hít bột tan, sản xuất amiăng cũng có thể gây bụi phổi, xơ phổi.

    Một số người mắc bệnh tự miễn như thấp khớp, lupus ban đỏ cũng có biểu hiện xơ phổi. Ngoài ra, còn có lý do xơ phổi vô căn không rõ nguyên nhân xơ phổi. Hiện đã có một số thuốc chống xơ phổi nhưng chưa phổ biến tại Việt Nam.

    Dấu hiệu xơ phổi

    Để xác định bạn có bị xơ phổi hay không, TS Vinh cho biết người bệnh cần chụp X-quang phổi. Nhiều trường hợp trên phim X-quang xuất hiện nhiều dải xơ, đám xơ, phổi trắng nhưng cũng có trường hợp xơ phổi ít không nhìn rõ cần chụp thêm CT để phổi được chụp nhiều hình ảnh hơn nhằm xác định tình trạng xơ phổi.

    Khi điều trị xơ phổi, bác sĩ sẽ thăm dò chức năng phổi để xem tình trạng chức năng trao đổi oxy của phổi như thế nào. Người bị xơ phổi cơ chế đưa oxy vào máu không được tốt nên bác sĩ sẽ điều chỉnh để trao đổi khí vào máu tốt hơn.

    Theo TS Vinh dấu hiệu nhận biết xơ phổi cũng khó vì xơ phổi làm thay đổi chức năng hô hấp. Người bệnh chỉ cảm thấy khó thở khi gắng sức. Việc trao đổi khí giảm đi người bệnh cảm thấy thiếu oxy mãn tính, tím môi, tím đầu ngón tay, ngón chân.

    Xơ phổi do Covid-19 có tồn tại suốt đời hay không đến nay vẫn là câu hỏi chưa có trả lời vì vấn đề bệnh Covid-19 mới xuất hiện 2 năm nên chưa có kết quả 3- 5 năm sau như thế nào nhưng đến nay xơ phổi việc điều trị khó khăn.

    Theo Infonet

    Chia sẻ lên Facebook Copy link dẫnĐã copy!
    Chia sẻ
  • 08:00:00 20/02/2022

    Khi nào dùng thuốc Molnupiravir Việt Nam mới cấp phép, những cảnh báo ảnh hưởng đến nam, nữ, trẻ em

    Bộ Y tế vừa cấp phép lưu hành thời hạn 3 năm cho 3 thuốc điều trị bệnh nhân COVID-19 nhẹ và vừa Molnupiravir. Thuốc này sẽ được bán tại nhiều nhà thuốc và có lo ngại dùng tự do sẽ gây ảnh hưởng khi thuốc có tác dụng phụ.       

    Khi nào dùng Molnupiravir?

    Tại phiên họp trước khi cấp phép cho Molnupiravir tại Việt Nam của Hội đồng tư vấn cấp giấy đăng ký lưu hành thuốc (Bộ Y tế), các thành viên hội đồng đã thống nhất cảnh báo không dùng thuốc Molnupiravir cho phụ nữ có thai, trẻ dưới 18 tuổi do có tác dụng phụ, thuốc cũng ảnh hưởng đến tinh trùng của nam giới.

    Theo thông báo của hội đồng, Molnupiravir được sử dụng để điều trị COVID-19 nhẹ đến trung bình cho người trưởng thành dương tính COVID-19, có ít nhất một yếu tố nguy cơ làm bệnh tiến triển nặng.

    DIỄN BIẾN DỊCH NGÀY 20/2: Dịch liên tục &quot;lập đỉnh&quot;, Hà Nội mất 37 xã phường vùng xanh, tăng gần gấp đôi địa phương vùng vàng - Ảnh 1.

    Về giới hạn sử dụng thuốc, hội đồng khuyến cáo Molnupiravir dùng trên bệnh nhân có thời gian khởi phát triệu chứng dưới 5 ngày, không sử dụng quá 5 ngày liên tiếp, không sử dụng để dự phòng sau hay trước phơi nhiễm để phòng COVID-19.

    Đối với phụ nữ có thai và cho con bú, Molnupiravir không được khuyến cáo sử dụng trong thời kỳ mang thai. Phụ nữ chuẩn bị mang thai nên sử dụng biện pháp tránh thai hiệu quả trong thời gian điều trị và trong 4 ngày sau liều Molnupiravir cuối cùng.

    Hội đồng cũng cho rằng dựa trên khả năng xảy ra các phản ứng có hại cho trẻ sơ sinh từ Molnupiravir, không khuyến cáo F0 là phụ nữ nuôi con nhỏ cho con bú trong thời gian điều trị và trong 4 ngày sau liều Molnupiravir cuối cùng.

    Thuốc có ảnh hưởng đến trẻ em và nam giới

    Đối với trẻ em và thanh thiếu niên, Molnupiravir không được phép sử dụng cho bệnh nhân dưới 18 tuổi vì có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của xương và sụn.

    Đối với nam giới, hội đồng khuyến cáo Molnupiravir có thể ảnh hưởng đến tinh trùng, mặc dù rủi ro được coi là thấp. Vì vậy, nam giới sử dụng Molnupiravir nên sử dụng một phương pháp tránh thai tin cậy trong thời gian điều trị và ít nhất 3 tháng sau liều Molnupiravir cuối cùng.

    Để đảm bảo an toàn, hiệu quả, hội đồng cho rằng chỉ sử dụng thuốc Molnupiravir khi có đơn của bác sĩ theo đúng chỉ định, các giới hạn sử dụng và các cảnh báo, thận trọng của thuốc. Không tự ý mua, sử dụng thuốc Molnupiravir trôi nổi, không rõ nguồn gốc, xuất xứ trên thị trường.

    Trong quá trình sử dụng thuốc Molnupiravir, nếu gặp phải bất kỳ phản ứng có hại nào của thuốc, cần thông báo ngay cho bác sĩ hoặc dược sĩ để được tư vấn và xử trí kịp thời.

    Cảnh báo tương tác thuốc khi dùng Molnupiravir 

    Theo bác sĩ Nguyễn Huy Hoàng, Trung tâm Oxy cao áp Việt Nga, Bộ Quốc phòng, khi đang dùng thuốc kháng virus, cần cân nhắc rất cẩn thận việc kết hợp với thuốc kháng viêm corticoid, do corticoid ức chế hệ miễn dịch của cơ thể, khiến virus dễ dàng nhân lên hơn.

    Thuốc kháng viêm corticoid là nhóm thuốc thông dụng, rẻ tiền và có hiệu quả tốt để điều trị các rối loạn phản ứng viêm do COVID-19. Tuy nhiên, corticoid không được dùng để dự phòng vì có nhiều biến chứng nguy hiểm, thậm chí dùng sớm còn làm cho tình trạng bệnh nặng thêm.

    Bác sĩ Hoàng cho rằng "đây lại là nhóm thuốc dễ bị lạm dụng nhất", và lại có thể gây ra nhiều hậu quả khôn lường.

    "F0 triệu chứng nhẹ và không triệu chứng không được dùng thuốc kháng viêm vì đây là nhóm thuốc làm giảm miễn dịch, giảm sự đề kháng của cơ thể. Trong giai đoạn đầu khi virus mới xâm nhập và đang nhân lên, dùng thuốc kháng viêm sẽ khiến cho virus càng dễ dàng nhân lên, vì thế tuyệt đối không dùng thuốc kháng viêm cho giai đoạn này. 

    Corticoid chỉ có tác dụng khi COVID-19 ở mức độ vừa hoặc nặng. Các khuyến cáo trên các tạp chí y khoa danh tiếng đều yêu cầu chống chỉ định dùng corticoid khi người bệnh chưa đến mức nhập viện", bác sĩ Hoàng nói.

    Ngoài việc giúp sức cho virus dễ dàng nhân lên, thuốc kháng viêm corticoid còn làm cho người bệnh dễ bị nhiễm khuẩn, nhiễm nấm... Corticoid làm nặng tình trạng tăng đường máu, tăng huyết áp trên các bệnh nhân có bệnh này.

    Hướng dẫn sử dụng thuốc của Công ty Stella, 1 trong 3 công ty được cấp phép sản xuất Molnupiravir Việt Nam, cho biết phản ứng phụ thường gặp khi dùng thuốc có thể gồm chóng mặt, đau đầu, tiêu chảy, buồn nôn. Các phản ứng phụ ít gặp hơn gồm nôn, phát ban, nổi mề đay.

    Theo Tuổi trẻ

    Chia sẻ lên Facebook Copy link dẫnĐã copy!
    Chia sẻ
  • 07:10:00 20/02/2022

    Số ca COVID-19 cao nhiều ngày liên tục, Hà Nội tăng gần gấp đôi địa phương 'vùng vàng'

    Ngày 19-2, UBND TP Hà Nội có thông báo đánh giá cấp độ trong phòng, chống dịch COVID-19 trên địa bàn Hà Nội.

    Theo đó, ở quy mô xã, phường, thị trấn, Hà Nội có 80 địa phương cấp độ 2 (vùng vàng), 499 địa phương cấp độ 1 (vùng xanh).

    Hiện TP Hà Nội không có xã, phường, thị trấn nào có dịch ở cấp độ 3 (vùng cam) và 4 (vùng đỏ).

    Như vậy, so với thông báo phát đi vào ngày 12-2, TP Hà Nội gia tăng số xã, phường, thị trấn 'vùng vàng', từ 42 địa phương lên 80, tăng gần gấp đôi.

    Trước đó, trong tối 18-2, Sở Y tế Hà Nội cho biết từ 18h ngày 17-2 đến 18h ngày 18-2, Hà Nội ghi nhận 4.549 ca COVID-19, gồm 964 ca cộng đồng; 3.585 ca đã cách ly.

    Các ca bệnh trên ghi nhận tại 495 xã, phường, thị trấn thuộc 30/30 quận, huyện, thị xã.

    Một số quận, huyện ghi nhận nhiều bệnh nhân trong ngày như: Đông Anh (308), Hoàng Mai (282), Nam Từ Liêm (244), Sóc Sơn (242), Bắc Từ Liêm (236), Hoài Đức (225), Chương Mỹ (218).

    Trong đợt dịch thứ 4, thủ đô ghi nhận tổng 191.547 ca COVID-19.

    Theo Tuổi trẻ

    Chia sẻ lên Facebook Copy link dẫnĐã copy!
    Chia sẻ
  • 06:43:00 20/02/2022

    TP.HCM: Ca mắc COVID-19 trong 7 ngày qua tăng gấp 3 lần

    Thông tin từ Bộ Y tế chiều 19/2 cho biết, trên địa bàn TPHCM trong ngày không có bệnh nhân tử vong vì COVID-19. Cả 2 trường hợp tử vong được ghi nhận tại các bệnh viện đều được chuyển đến từ các tỉnh khác gồm Quảng Ngãi (1 ca); Bà Rịa – Vũng Tàu (1 ca).

    Tuy nhiên, số ca mới mắc COVID-19 trên địa bàn thành phố đang tăng nhanh, ngày 19/2 đã phát hiện 849 trường hợp dương tính với SARS-CoV-2. Trước đó, ngày 18/2 số ca mới mắc COVID-19 tại TPHCM ghi nhận 715 ca nhiễm mới; ngày 17/2 là 483 trường hợp.

    Dịch COVID-19 gia tăng trở lại trên địa bàn thành phố sau Tết Nguyên Đán là tình huống đã được dự báo từ trước. Theo phân tích của Sở Y tế, nguyên nhân số ca mắc mới gia tăng trở lại là do người dân từ các tỉnh thành trở lại thành phố học tập, làm việc sau Tết, sự gia tăng giao lưu tiếp xúc, biến động dân cư và trẻ đi học trở lại… là nguyên nhân tăng nguy cơ lây nhiễm.

    Để chủ động ngăn chặn nguy cơ dịch COVID-19 gia tăng, bùng phát trở lại, ngày 18/2 Sở Y tế TPHCM đã có văn bản gửi các cơ sở y tế, UBND quận huyện cùng thành phố Thủ Đức đề nghị các địa phương rà soát, nâng năng lực điều trị F0, đặc biệt là với bệnh nhân tại nhà, xây dựng phương án y tế theo từng cấp độ dịch của mỗi địa phương.

    Đến nay, hơn 90% người dân đang sinh sống tại TPHCM đủ tuổi đều được tiêm vắc xin phòng COVID-19. Đa số F0 không có triệu chứng và triệu chứng nhẹ. Theo Sở Y tế với tình hình trên, mỗi trạm y tế lưu động, tổ chăm sóc F0 cộng đồng với 1 bác sĩ và 1 đến 2 điều dưỡng đủ khả năng chăm sóc, quản lý 50-100 hộ F0. Tổ chăm sóc F0 tại cộng đồng chỉ có nhân viên y tế, không có bác sĩ, thì trạm y tế và trạm y tế lưu động hỗ trợ chăm sóc 10-20 hộ có F0.

    Cơ sở y tế chăm sóc, quản lý F0 tại nhà khi tiếp nhận thông tin người dân khai báo có kết quả xét nghiệm nhanh dương tính sẽ đánh giá tình trạng lâm sàng và khai thác yếu tố dịch tễ. Trường hợp chưa đủ cơ sở xác định là F0 theo quy định của Bộ Y tế, y tế địa phương sẽ xét nghiệm lại cho người bệnh bằng xét nghiệm nhanh do Bộ Y tế cấp phép.

    Theo Tiền phong

    Chia sẻ lên Facebook Copy link dẫnĐã copy!
    Chia sẻ
https://afamily.vn/big-story/dien-bien-dich-ngay-20-2-dich-lien-tuc-lap-dinh-ha-noi-tang-gan-gap-doi-dia-phuong-vung-vang-20220220000643208.chn