Tôi lấychồng được 12 năm và đã có 2 con, con gái 10 tuổi, con trai 4 tuổi. Trong thờigian chung sống, tôi là người cáng đáng về kinh tế. Tôi làm trưởng phòng mộtcông ty lớn của nước ngoài, thu nhập trung bình gấp 12, 13 lần chồng, chưa kểtừ những công việc làm ăn riêng. Căn nhà tôi đang ở xây trên mảnh đất đứng tênbố mẹ chồng tôi (các cụ chưa sang tên cho con). Cuộc hôn nhân của chúng tôikhông tốt lành vì chồng tôi không những không chí thú làm ăn mà còn bồ bịchlăng nhăng nhưng vì các con tôi đã nhẫn nhịn nhiều năm. Khi không thể níu kéođược nữa, chồng tôi cùng bàn với bố mẹ chồng đẩy tôi ra đường với 2 bàn taytrắng với lý do: mảnh đất thuộc quyền sở hữu của các cụ, còn nhà thì cho đúnglà tôi xây nhưng nếu muốn lấy thì đập ra mang đi. Vậy tôi muốn được hỏi luậtsư: Khi giải quyết ly hôn, tôi có được chia gì trong khối tài sản chung với giađình nhà chồng không? Xin nói thêm là mọi giấy tờ mua bán vật liệu, công xá xâynhà, hợp đồng lao động chứng minh thu nhập tôi đều có đủ (Diễm Quyên)
Trả lời: Do chị không nói rõ là vợchồng chị có đăng ký kết hôn hay không nên trên cơ sở các thông tin mà chị cungcấp, giả sử anh chị có đăng ký kết hôn hợp pháp, sau khi nghiên cứu các quyđịnh của pháp luật, xin được tư vấn một số vấn đề sau:
1. Thứ nhất: Xác địnhtài sản chung, riêng của vợ chồng
Căn cứ Điều 27 – Luật hôn nhân gia đình năm 2000, Tài sảnchung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động,hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồngtrong thời kỳ hôn nhân. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.
Căn cứ Điều 32 – Luật hôn nhân gia đình năm 2000, Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản màmỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêngtrong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tạikhoản 1 Điều 29 (Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân) và Điều 30 (Hậu quảchia tài sản chung của vợ chồng) của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân. Đồngthời Luật cũng quy định về việc Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sảnriêng vào khối tài sản chung.
→ Như vậy, thu nhập từ lao động, kinh doanh dù của vợ haycủa chồng đều được coi là tài sản chung vợ, chồng. Ngôi nhà anh chị xây dựngcũng là tài sản chung vợ chồng mặc dù công sức đóng góp là khác nhau.
2. Thứ hai: Nguyêntắc chia tài sản khi ly hôn
Căn cứ Điều 95 Luật hôn nhân gia đình năm 2000, nguyên tắcchia tài sản khi ly hôn được xác định như sau:
Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thoả thuận; nếukhông thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.
Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.
Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắcsau đây:
Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi,nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng gópcủa mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ,chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
Lưu ý:
Trong trường hợp tài sản thuộc sởhữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thìtrong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ và chồng
Thực tiễn cho thấy chỉ có tài sảnrất lớn, rất quan trọng đối với đời sống gia đình thì trong giấy chứng nhậnquyền sở hữu mới ghi tên của cả vợ chồng (như: nhà ở, quyền sử dụng đất...),song cũng không phải trong mọi trường hợp. Đối với các tài sản khác phải đăngký quyền sở hữu, nhưng trong giấy chứng nhận thường chỉ ghi tên của vợ hoặcchồng (như: xe môtô, xe ôtô, tàu, thuyền vận tải...).
Mặt khác, khoản 1 Điều 32 đã quyđịnh cụ thể về tài sản riêng của vợ chồng. Để bảo vệ quyền lợi chínhđáng của các bên, trong trường hợp tài sản do vợ, chồng có được trong thời kỳhôn nhân mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng trong giấychứng nhận quyền sở hữu chỉ ghi tên của vợ hoặc chồng, nếu không có tranh chấpthì đó là tài sản chung của vợ chồng; nếu có tranh chấp là tài sản riêng thìngười có tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải chứng minh được tài sảnnày do được thừa kế riêng, được tặng riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sảnnày có được từ nguồn tài sản riêng quy định tại khoản 1 Điều 32 (ví dụ: đượcthừa kế riêng một khoản tiền và dùng khoản tiền này mua cho bản thân một chiếcxe môtô mà không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng). Trong trường hợpkhông chứng minh được tài sản đang có tranh chấp này là tài sản riêng thì theoquy định tại khoản 3 Điều 27 tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng.
Khi xét xử, tòa án sẽ xem xét trêncơ sở:
Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niênhoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả nănglao động và không có tài sản để tự nuôi mình;
Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinhdoanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theogiá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mìnhđược hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.
Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng dovợ, chồng thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.
3. Thứ ba: Chia tàisản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn.
Căn cứ Điều 96- Luậthôn nhân gia đình năm 2000 thì:
Trong trường hợp vợ, chồng sống chung với gia đình mà lyhôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xácđịnh được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của giađình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì pháttriển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chiamột phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thoả thuận với gia đình; nếukhông thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.
Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sảncủa vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theophần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sảnchung đó để chia.
Như vậy, ở trườnghợp của chị, mảnh đất vẫn do cha mẹ chồng đứng tên và chưa được chuyển giao hợppháp cho anh chị (tức là việc chuyển nhượng hay cho tặng anh chị đã được thôngqua hợp đồng được công chứng hoặc chứng thực và Giấy chứng nhận quyền sử dụngđất được sang tên cho anh chị) nên quyền sử dụng đất vẫn là của cha mẹ chồngchị.
Đối với giá trị nhà, nếu chị có thể cung cấp giấy tờ, bằngchứng chứng minh ngôi nhà được hình thành từ nguồn tài chính của anh chị thìngôi nhà thuộc quyền sở hữu của anh chị. Căn cứ Điều 98- Luật hôn nhân gia đìnhnăm 2000, trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ chồng có thể chia đểsử dụng thì khi ly hôn được chia theo quy định tại Điều 95 của Luật này; nếukhông thể chia được thì bên được tiếp tục sử dụng nhà ở phải thanh toán cho bênkia phần giá trị mà họ được hưởng.
Khi ly hôn, vì ngôi nhà gắn liền với quyền sử dụng đất nên Tòaán sẽ xem xét chứng cứ do chị cung cấp, định giá ngôi nhà và chia giá trị ngôinhà theo các nguyên tắc nêu trên. Nếu chị không ở tại ngôi nhà nêu trên nữa, Tòaán sẽ xác định giá trị ngôi nhà và yêu cầu người trực tiếp sử dụng ngôi nhàphải có trách nhiệm hoàn lại cho chị một phần tiền tương ứng với giá trị ngôinhà mà chị được hưởng.
Trên đây là ý kiến của Luật sư căn cứ vào quy định của phápluật và các dữ kiện do chị cung cấp, trong trường hợp cần tư vấn cụ thể hơn, đềnghị chị liên hệ trực tiếp và cung cấp đầy đủ các dữ kiện theo yêu cầu.
Trân trọng!
Luật sư Hoài Nam – Minh Huyền
VP LS Chu Đông và Cộngsự - số 10 đường Yên Phụ - Ba Đình - HN