Trẻ tự kỷ và sức mạnh của tiếng cười
Cô giáo Lê nhúng tay vào chậu nước, xoa kỹ hai bàn tay vào nhau, không quên nhắc các học trò chú ý nhìn theo.Cô là giáo viên phụ trách lớp tự kỷ nặng của Trung tâm Sao Mai.
![]() . |
Cộng sự của cô, cô giáo Hằng, liên tục nhắc các học trò ngồi xuống và chú ý nghe.
Các em còn thường xuyên gào thét hoặc tự ý ra khỏi chỗ. Khi đó, cô Lê phải dùng tới những tấm “thẻ mệnh lệnh”. Mỗi một thẻ có in hình một động tác - đó là hệ thống tranh biểu tượng của Mỹ, được sử dụng ở tất cả các cơ sở dạy trẻ tự kỷ ở châu Âu, châu Mỹ - chẳng hạn như “ngồi yên”, “im lặng”, “nguy hiểm”, “chào” “tạm biệt”, ”ngủ”, “ ăn”, ”uống”…
“Phải thế này các cháu mới nhớ được,” cô Lê cười và nhắc lại rằng động tác rửa tay đơn giản này cô đã dạy các em từ ngay sau Tết. Mỗi một công việc tưởng như rất bình thường này đều tiêu tốn của thầy trò cô rất nhiều giờ học.
Nghề gian khó
“Nhiều lúc bạn bè bảo công việc thế này thì thà đi bán rau còn khoẻ hơn,” cô Lê tươi cười nói. “Và được nhiều tiền hơn nữa.”
Lương tháng của cô hiện nay là 650 nghìn đồng, ngoài ra có các khoản thưởng và phụ cấp khác; tổng thu nhập từ 1 triệu đến 1 triệu 300 nghìn, tuỳ thuộc được xếp loại A, B, hay C....
“Đủ để đóng tiền học cho con,” cô cười. Cô có một con trai ba tuổi, gửi cả ngày ở một trường mầm non tư thục.
Cô tiết lộ rằng lúc mới lập gia đình vào năm 2005, lương của cô chỉ là 400 nghìn đồng, nhưng cô phải nói với gia đình chồng là 1 triệu đồng. “Cuối tháng lĩnh lương mọi người cứ trêu là Lê nhận tiền rồi bị mất cắp,” cô cười to.
Giáo viên của Trung tâm Sao Mai được tuyển chọn rất kỹ. Mỗi người phải thử việc ba tháng dưới sự giám sát trực tiếp của bà giám đốc và phó giám đốc, của phòng giáo vụ và sau đó là của cả các giáo viên khác.
“Chúng tôi từ chối ngay những người chỉ quan tâm đến chuyện lương ra sao, trợ cấp thế nào,” Bác sĩ Đỗ Thuý Lan, giám đốc Trung tâm Sao Mai, nói.
Mỗi tháng, các giáo viên ở đây phải học bồi dưỡng nghiệp vụ bắt buộc hai ngày. Ngoài ra còn có tập huấn chuyên môn định kỳ do chính bác sĩ Lan và các chuyên gia nước ngoài giảng dạy.
“Chỉ có bằng cao đẳng mẫu giáo thì làm sao dạy nổi trẻ như thế này,” cô giáo Lê nói.
Quan niệm sai lầm
Theo cô giáo Lê, khó khăn lớn nhất đối với các giáo viên dạy trẻ tự kỷ (và các giáo viên dạy trẻ khuyết tật nói chung) lại không phải ở vấn đề kinh tế mà là ở thái độ của cộng đồng. “Người ta vẫn coi thường bọn mình lắm,” cô nói.
“Họ gọi tụi mình là bọn dạy ở trại điên,” cô tâm sự. “Hồi xưa mình không bao giờ dám để người yêu chở đến tận chỗ làm”. Nay, khi đã có chồng, cô cũng ngại không muốn để chồng đến cơ quan.
Cô còn cho biết mẹ chồng cô đợi đến khi cô sinh con mới tiết lộ rằng bà thật lòng rất lo rằng cô dạy trẻ tự kỷ thì con cô cũng sẽ “có vấn đề”. Một vài người bạn cô cũng đã phải bỏ việc vì bị gia đình phản đối.
“Còn chuyện trục trặc với người yêu hoặc gia đình nhà chồng thì nhiều lắm,” cô Lê nói.
Bác sĩ Đỗ Thuý Lan nói: “Đây là một nghề đòi hỏi cái tâm, phải yêu trẻ, sẵn sàng chấp nhận khó khăn, phải xác định đây là một nghề mang tính từ thiện và nhân đạo, tất nhiên không ai uống nước lã để đi làm từ thiện nhưng không được làm giàu bằng nỗi đau của người khác.”
Nữ thầy thuốc ưu tú từng có 18 năm kinh nghiệm chăm sóc trẻ khuyết tật trí tuệ (bao gồm cả trẻ tự kỷ) này cho rằng các bậc cha mẹ nói riêng và xã hội nói chung chưa có hiểu biết đầy đủ về hội chứng tự kỷ.
Nhiều vị phụ huynh không chịu chấp nhận rằng con mình tự kỷ, nhiều người tưởng rằng tự kỷ đồng nghĩa với bệnh tâm thần… “Tự kỷ có nhiều mức độ nặng nhẹ khác nhau,” bác sĩ Lan nói. “Trẻ được phát hiện và can thiệp sớm trước 36 tháng tuổi thường có thể chuyển ra học hoà nhập sau hai năm giáo dục chuyên biệt.” Và kết qua là cuối năm 2007, Trung tâm Sao Mai đã chuyển 10 em ra học hoà nhập.
Bác sĩ Lan cho biết khi Trung tâm Sao Mai mới thành lập (năm 1995), các vị phụ huynh rất mặc cảm, còn giáo viên e dè trước định kiến xã hội nên công việc gặp nhiều khó khăn.
Nay, tình hình đã sáng sủa hơn, nhưng bác sĩ Lan vẫn thường xuyên có những buổi thuyết giảng, định hướng cho cả giáo viên lẫn phụ huynh về hội chứng tự kỷ để họ có cái nhìn đúng đắn hơn.
Không bỏ cuộc
Giờ ăn trưa là cơ hội cho các giáo viên ở đây nói chuyện với nhau. Vừa bón từng thìa cơm cho trẻ, các cô vừa bàn tán với nhau về “đôi hoa tai giá năm nghìn đồng, bán đầy ngoài chợ trời”.
Đối với một giáo viên dạy trẻ tự kỷ nặng như cô giáo Lê thì khái niệm nghỉ trưa không tồn tại. “Lũ trẻ có chịu ngủ đâu,” cô nói trong khi cố dỗ một bé gái ăn nốt bát cơm. Hai cô trò là những người cuối cùng còn ngồi lại ngoài hành lang, các học sinh khác đã ăn xong và về phòng từ lâu.
Cho trẻ ăn xong, các giáo viên đem cơm hộp về phòng để vừa ăn vừa “ổn định trật tự”. Lớp của cô Hằng có thêm các giáo viên các phòng Trị liệu ngôn ngữ/ cá nhân xuống “tăng cường”. Họ thay nhau nhắc nhở lũ trẻ nằm xuống và không được làm ồn.
Các cô còn phải chia ca “trực” để mỗi người được ngủ một chút nhưng vẫn có người trông chừng học trò. Cô Hằng vừa luôn miệng nhắc “nằm xuống nào”, “ngủ đi”, vừa cố tranh thủ lướt qua một tờ tạp chí cũ do vị phụ huynh nào đó tặng. Cô chưa bao giờ có đủ thời gian đọc nó.
Những tiết học khó khăn hơn đang chờ đợi các cô. “Một tuần năm ngày như thế, có lúc nghĩ đến chuyện kinh tế mình cũng thấy chán vì thu nhập thấp hơn giáo viên của nhà nước,” cô Lê nói. “Nhưng mình rất yêu công việc này.”
