Dinh dưỡng cho bé tiểu học
Từ
6 tuổi, bé bắt đầu đi học. Do đó, các chất dinh dưỡng cung cấp hàng
ngày cho bé qua thức ăn không chỉ để bé phát triển về thể chất, mà còn
cung cấp năng lượng cho bé học tập. Vì vậy, ăn sáng hợp lý ở lứa tuổi
này giúp bé thông minh, khỏe mạnh và phòng chống được bệnh tật.
Nhu cầu về năng lượng và chất đạm ở lứa tuổi này như sau:
6 tuổi: năng lượng (1.600 Kcal), chất đạm (36g).
7-9 tuổi: năng lượng (1.800 Kcal), chất đạm (40g).
10-12 tuổi: năng lượng (2.100-2.200 Kcal), chất đạm (50g).
Chú ý: Nếu không có điều kiện
chế biến nhiều loại món ăn trong một ngày thì có thể tính lượng đạm
của bé như sau: cứ 100g thịt nạc tương đương với 150g cá hoặc tôm, 200g
đậu phụ, 2 quả trứng vịt hoặc 3 quả trứng gà. Nếu ăn các loại bún,
miến, phở, khoai, ngô, sắn thì phải giảm bớt lượng gạo đi.
Chế biến thức ăn cho con
Lứa tuổi này bé đã hoàn toàn ăn cùng với gia đình, tuy nhiên bạn cần lưu ý một số điểm sau:
- Cho con ăn no vào bữa sáng (để tránh
ăn quà vặt ở đường phố, hoặc ăn quá ít, nhịn sáng sẽ ảnh hưởng đến kết
quả học tập, thậm chí hạ đường huyết trong giờ học).
- Nên cho con ăn nhiều loại thực phẩm khác nhau, tránh ăn một vài loại nhất định.
- Khuyến khích con ăn nhiều rau, để tránh táo bón, đồng thời cung cấp nhiều vi chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển.
- Ăn đúng bữa, không ăn vặt, không ăn bánh, kẹo, nước ngọt trước bữa ăn.
- Không nên nấu thức ăn quá mặn, tập thói quen ăn nhạt.
- Không nên ăn quá nhiều bánh kẹo,
nước ngọt vì dễ bị sâu răng. Đến bữa ăn nên chia suất ăn riêng cho bé,
để tránh ăn quá ít hoặc quá nhiều.
- Tập thói quen uống nước kể cả khi không khát, lượng nước nên uống một ngày 1 lít.
- Giáo dục cho bé thói quen vệ sinh ăn uống: rửa tay trước khi ăn và sau khi đi đại tiện.
- Số bữa ăn: nên chia 4 bữa/ngày, 3 bữa chính và một bữa phụ.
Ths.BS. Lê Thị Hải (SK & ĐS) |