Mẹ tôi đã dành phần lớn cuộc đời cho gia đình. Nhìn vào những gì mẹ đã trải qua, tôi càng hiểu rằng một người phụ nữ không chỉ cần một mái nhà để trở về, mà còn cần một công việc, những mối quan hệ và một thế giới riêng của chính mình.
Tôi từng nghĩ mình không thích hôn nhân. Sau này tôi mới nhận ra, có lẽ thứ tôi sợ không hẳn là hôn nhân, mà là một cuộc đời giống cuộc đời của mẹ.
Mẹ tôi thuộc thế hệ 6X, sinh ra vào một thời mà chuyện một đứa trẻ được học hành đến nơi đến chốn chưa phải điều hiển nhiên trong mọi gia đình. Mẹ là con nhà giáo nhưng gia đình vẫn thuần nông, cuộc sống gắn với ruộng đồng, mùa màng và những công việc chẳng bao giờ có khái niệm “làm xong là nghỉ”. Sau này mẹ đi làm công nhân, rồi vì hoàn cảnh mà nghỉ mất sức, không còn công việc và thu nhập ổn định. Từ đó, mẹ ở nhà.
Nhưng gọi là “ở nhà nội trợ” nghe có vẻ nhẹ nhàng quá. Mẹ không chỉ nấu cơm, giặt quần áo, dọn dẹp nhà cửa. Mẹ làm đồng, chăm con, lo từng bữa ăn, từng mùa vụ, từng khoản chi tiêu nhỏ nhặt trong nhà. Ba anh em tôi lớn lên trong sự chăm sóc gần như toàn thời gian của mẹ.
Tuổi thơ của chúng tôi là những mùa gặt, những ngày bẻ ngô, rỡ lạc, những buổi chiều chạy quanh mương nước lúc người lớn bơm nước ra đồng. Chúng tôi từng tát cá dưới mương, từng lấm lem bùn đất, từng coi những cánh đồng và bờ ruộng là cả thế giới của mình. Những năm đầu 2000, sau nhiều biến cố, mất mát và nợ nần, gia đình tôi chuyển xuống thị xã. Cuộc sống khi ấy khá hơn một chút. Anh em tôi bắt đầu biết đến phố xá, biết đến những thứ mà trước đó chỉ nghe kể hoặc nhìn thấy trên tivi. Rồi máy vi tính xuất hiện trong cuộc sống của chúng tôi, và thế giới cũng từ từ mở rộng ra theo cách rất khác.
Bố tôi cũng từng là công nhân, sau đó nghỉ mất sức rồi làm đủ thứ để kiếm sống. Có lúc buôn lợn, có lúc buôn vầu, có lúc lại xoay sang một công việc khác. Cuộc sống gia đình không phải lúc nào cũng dễ dàng. Có những giai đoạn thiếu thốn, có những khoản nợ, những chuyện không vui và những năm tháng mà người lớn phải chắt chiu từng đồng để nuôi ba anh em tôi lớn lên.
Mẹ đã ở đó trong tất cả những năm tháng ấy. Nhưng điều khiến tôi suy nghĩ nhiều nhất không phải là việc mẹ đã vất vả như thế nào. Mà là sau từng ấy năm, tôi nhận ra mẹ gần như không có gì thuộc về riêng mình.
Mẹ không có một công việc để gọi tên ngoài việc “ở nhà”. Không có một sở thích riêng mà mẹ kiên trì theo đuổi. Không có một nhóm bạn thân để cuối tuần hẹn nhau đi đâu đó. Không có một vòng kết nối xã hội đủ rộng để khi buồn có thể gọi điện cho ai đó và nói chuyện vài tiếng. Cuộc sống của mẹ xoay quanh gia đình đến mức tôi đôi khi có cảm giác nếu bỏ đi vai trò của một người vợ, một người mẹ, một người lo việc nhà thì mẹ chẳng còn biết mình là ai.
Có lẽ điều đáng sợ nhất không phải là một người phụ nữ dành thời gian cho gia đình.
Điều đáng sợ là cô ấy dần dần không còn một cuộc đời nào khác ngoài gia đình.
Mẹ tôi không phải người không có năng lực. Mẹ chỉ sinh ra ở một thế hệ mà lựa chọn của phụ nữ hẹp hơn rất nhiều so với bây giờ.
Khi còn trẻ, có thể mẹ cũng từng có những mong muốn riêng. Có thể mẹ từng muốn học thêm, muốn làm một công việc tốt hơn, muốn có một cuộc sống khác. Nhưng rồi hoàn cảnh gia đình, sức khỏe, hôn nhân, con cái và vô số trách nhiệm cứ lần lượt xuất hiện. Người phụ nữ ở thế hệ ấy thường được dạy rằng gia đình là ưu tiên hàng đầu, rằng người vợ tốt là người biết vun vén, người mẹ tốt là người hy sinh cho con.
Tôi chỉ là một đứa con đứng ở thế hệ sau, nhìn vào cuộc đời của mẹ và tự hỏi: Nếu một ngày mình cũng sống như vậy thì sao?
Có một thời gian, tôi rất ác cảm với hôn nhân. Một phần bởi những gì tôi chứng kiến trong chính gia đình mình. Sự gia trưởng, những lúc coi thường công sức của người phụ nữ ở nhà, cách người ta có thể mặc nhiên xem việc một người phụ nữ nấu cơm, giặt giũ, chăm con, làm đồng, tiết kiệm từng đồng là chuyện đương nhiên.
Tôi từng nghĩ rất đơn giản: Nếu mình có tiền, mình sẽ không phải chịu cảnh bị coi thường. Sau này tôi mới hiểu, tiền không giải quyết được tất cả, nhưng khả năng tự kiếm tiền cho mình mang lại một thứ vô cùng quan trọng: Quyền lựa chọn.
Một người phụ nữ có thu nhập của riêng mình có thể bước ra khỏi một hoàn cảnh không phù hợp nếu cần. Cô ấy có thể tự quyết định mình muốn sống ở đâu, muốn học gì, muốn mua thứ gì, muốn giúp bố mẹ bao nhiêu. Cô ấy có thể thất bại mà không hoàn toàn phụ thuộc vào một người khác để bắt đầu lại.
Tôi là một người làm nghề này. Tôi có những đồng nghiệp. Tôi có những người cùng ngành. Tôi có những cuộc trò chuyện không liên quan đến chồng con. Tôi có những ngày phải ăn mặc tử tế, bước ra khỏi nhà, giải quyết một vấn đề, hoàn thành một việc, nhận lời khen hoặc một lời phê bình. Tôi có những thứ khiến tôi cảm thấy mình đang tồn tại trong xã hội này với tư cách một cá nhân độc lập.
Đôi khi người ta nói phụ nữ đi làm là để kiếm tiền. Tôi nghĩ không chỉ vậy. Đi làm còn là một cách để duy trì mối liên hệ của mình với thế giới.

Càng lớn, tôi càng hiểu vì sao mình luôn muốn có công việc, có bạn bè, có những mối quan hệ riêng. Có lẽ một phần tính cách ấy được hình thành từ việc tôi đã nhìn thấy cuộc đời của mẹ quá gần.
Mẹ có thể dành cả ngày làm việc nhưng đến cuối ngày, thành quả của mẹ rất khó gọi tên. Bữa cơm được nấu xong rồi mọi người ăn. Quần áo được giặt rồi lại mặc bẩn. Nhà cửa được dọn rồi ngày mai lại bừa bộn. Mẹ chăm con lớn lên, nhưng khi con lớn thì công việc chăm sóc cũng không còn được nhìn thấy rõ ràng như trước.
Bấm vào từng việc để thấy vì sao một ngày làm việc của mẹ lại khó gọi tên thành quả đến thế.
“Bữa cơm được nấu xong rồi mọi người ăn”. Không ai vỗ tay vì một người mẹ đã nấu 3.000 bữa cơm.
“Quần áo được giặt rồi lại mặc bẩn”. Việc vừa xong đã lập tức quay về vạch xuất phát.
“Nhà cửa được dọn rồi ngày mai lại bừa bộn”. Lặp đi lặp lại đến mức người khác dễ dàng nghĩ rằng nó vốn phải như thế.
“Mẹ chăm con lớn lên, nhưng khi con lớn thì công việc chăm sóc cũng không còn được nhìn thấy rõ ràng như trước”.
Không ai vỗ tay vì một người mẹ đã nấu 3.000 bữa cơm. Không ai trao bằng khen cho những năm tháng một người phụ nữ thức dậy sớm, đi chợ, nấu ăn, chăm con, làm việc nhà rồi đi ngủ. Những việc ấy cứ lặp đi lặp lại đến mức người khác dễ dàng nghĩ rằng nó vốn phải như thế. Và nếu người chồng không biết trân trọng, người phụ nữ rất dễ rơi vào cảm giác công sức của mình chẳng có giá trị.
Tôi nghĩ đó là điều khiến tôi sợ. Không phải tôi sợ nấu cơm. Tôi cũng không sợ chăm sóc một người mình yêu thương. Tôi thậm chí nghĩ nếu sau này có gia đình, việc vun vén cho những người mình yêu là một điều rất đáng quý.
Nhưng tôi không muốn toàn bộ giá trị của mình được đặt vào đó.
Tôi muốn có công việc của mình, những người bạn của mình, những điều mình thích, những kiến thức mình muốn học, những nơi mình muốn đến và những cuộc trò chuyện không bắt đầu bằng câu hỏi hôm nay ăn gì.
Tôi muốn nếu một ngày con cái lớn lên và không cần mình nữa, tôi vẫn còn một cuộc đời để sống. Tôi muốn nếu một ngày hôn nhân có vấn đề, tôi không rơi vào trạng thái cảm thấy cả thế giới của mình sụp đổ chỉ vì một người bước ra khỏi đó.
Và tôi cũng muốn nếu một ngày người đàn ông bên cạnh mình thành công hơn, kiếm được nhiều tiền hơn, tôi vẫn có thể ngẩng đầu nói rằng: “Em cũng có cuộc đời của em”. Không phải để hơn thua mà để bình đẳng.
Có lẽ đây là điều tôi mất nhiều năm mới hiểu được. Tôi không muốn trở thành một người phụ nữ giống mẹ không có nghĩa là tôi phủ nhận cuộc đời của mẹ. Ngược lại, chính vì biết mẹ đã hy sinh thế nào nên tôi càng muốn sống một cuộc đời có nhiều lựa chọn hơn.
Mẹ đã làm những gì mẹ có thể làm trong hoàn cảnh của mẹ. Thế hệ của mẹ lớn lên với những giới hạn khác. Những cô gái sinh vào những năm 1960 không có internet để nhìn thấy hàng nghìn kiểu cuộc sống khác nhau. Họ không có mạng xã hội để biết rằng một người phụ nữ có thể trở thành nhà văn, bác sĩ, doanh nhân, nhà thiết kế, nhà nghiên cứu, người làm nội dung hay sống độc thân và vẫn có một cuộc đời đầy đủ.
Cùng là phụ nữ, nhưng khoảng cách giữa hai thế hệ không nằm ở năng lực. Nó nằm ở số cánh cửa mà mỗi người được nhìn thấy.
Họ thường được dạy cách trở thành một người vợ tốt trước khi được dạy cách trở thành chính mình. Thế hệ của tôi may mắn hơn. Chúng tôi được nhìn thấy nhiều lựa chọn hơn. Vậy thì tại sao lại phải sống một cuộc đời chỉ vì người khác từng sống như thế?
Tôi muốn làm việc không phải vì nghĩ nội trợ là thấp kém. Tôi biết một người chăm sóc gia đình tốt có giá trị đến thế nào. Tôi biết phía sau một gia đình ổn định thường có vô số công việc không tên.
Nếu sau này tôi có gia đình và có một giai đoạn phải ở nhà chăm con, tôi muốn đó là quyết định mà tôi và người bạn đời cùng thống nhất, cùng nhìn nhận giá trị và cùng chia sẻ trách nhiệm. Tôi không muốn việc tôi ở nhà mặc nhiên biến thành lý do để mọi quyết định tài chính trong gia đình thuộc về người khác.
Tôi càng không muốn một ngày nào đó có người nói với tôi rằng: “Em có làm gì đâu, cả ngày chỉ ở nhà”. Bởi tôi đã nhìn thấy mẹ mình. Tôi biết câu nói ấy có thể làm tổn thương một người đã dành cả đời để chăm sóc những người khác đến mức nào.
Có một điều khác tôi cũng học được từ mẹ: Phụ nữ cần các mối quan hệ ngoài gia đình. Một người bạn để uống cà phê. Một đồng nghiệp có thể nói chuyện nghề nghiệp. Một người chị có thể gọi khi gặp chuyện. Một nhóm người cùng sở thích. Một cộng đồng nhỏ nơi mình được là chính mình.
Những mối quan hệ ấy không phải thứ phù phiếm. Chúng là một phần của đời sống tinh thần. Nếu toàn bộ thế giới của một người phụ nữ chỉ có chồng và con, cô ấy sẽ rất dễ đặt tất cả kỳ vọng, niềm vui, nỗi buồn và cảm giác có giá trị của mình vào gia đình. Khi gia đình có vấn đề, cô ấy có thể cảm thấy mình không còn gì nữa.
Không phải để đề phòng một cuộc hôn nhân thất bại, mà để hiểu rằng một người trưởng thành nên có nhiều phần khác nhau trong đời sống của mình. Có công việc. Có gia đình. Có bạn bè. Có sở thích. Có những mục tiêu riêng. Có những khoảng thời gian chỉ dành cho bản thân. Những phần ấy không cạnh tranh với nhau. Chúng bổ sung cho nhau. Và có lẽ đó mới là một cuộc sống tương đối lành mạnh.
Sáu thứ mà bài viết này gọi là “điểm tựa”. Bấm chọn những gì bạn đang thực sự có, ngay lúc này.
Thế giới của bạn đang khá hẹp. Không sao cả, chỉ cần thêm một điểm tựa nhỏ thôi cũng đủ để bắt đầu.
Bạn đã có vài chỗ để tựa vào. Hãy giữ chúng, đừng để những việc không tên cuốn đi hết.
Bạn đang có một đời sống khá cân bằng. Những phần này không cạnh tranh nhau, chúng bổ sung cho nhau.
Bạn có gần như đủ những điểm tựa mà bài viết nhắc tới: Một mái nhà để yêu thương, và một thế giới để thuộc về.
Tôi nghĩ về mẹ nhiều nhất vào những lúc tôi thấy mình quá bận rộn với công việc. Có đôi khi tôi tự hỏi liệu mình có đang đi quá xa theo hướng ngược lại không. Có phải vì sợ cuộc đời của mẹ mà tôi cứ cố gắng chứng minh rằng mình phải độc lập, phải thành công, phải có một vị trí riêng? Có thể.
Nhưng rồi tôi lại nghĩ, độc lập không nhất thiết có nghĩa là phải trở thành một người phụ nữ lúc nào cũng mạnh mẽ, lúc nào cũng kiếm được nhiều tiền, lúc nào cũng tự mình giải quyết tất cả.
Biết mình có thể tự kiếm tiền. Biết mình có một công việc hoặc một năng lực mà không ai có thể lấy đi chỉ bằng một câu nói. Biết mình có những người ngoài gia đình. Biết mình có thể bước ra ngoài cánh cửa ấy và bắt đầu lại nếu cuộc đời buộc mình phải làm vậy. Và quan trọng nhất, biết mình là ai ngay cả khi không còn là vợ của ai đó, mẹ của ai đó hay con của ai đó.
Tôi thương mẹ vì mẹ đã dành gần như cả đời để chăm sóc chúng tôi.
Nhưng chính vì thương mẹ, tôi càng không muốn lặp lại nguyên vẹn cuộc đời ấy.
Tôi muốn nếu sau này có con, chúng sẽ nhìn thấy một người mẹ vừa yêu chúng, vừa yêu công việc của mình. Một người mẹ có thể nấu cho chúng một bữa cơm ngon nhưng cũng có thể bỏ bếp để đi gặp bạn. Một người mẹ có thể chăm sóc gia đình nhưng vẫn có những cuốn sách riêng, những chuyến đi riêng, những cuộc trò chuyện riêng và những ước mơ chưa hoàn thành.
Tôi muốn chúng hiểu rằng phụ nữ không sinh ra chỉ để hy sinh. Và đàn ông cũng không sinh ra để trở thành người duy nhất quyết định cuộc đời của một gia đình.
Có lẽ điều tôi muốn nhất không phải là có một cuộc đời hoàn toàn khác mẹ. Tôi chỉ muốn có nhiều lựa chọn hơn mẹ đã từng có. Mẹ đã đi qua một thời đại mà phụ nữ thường phải học cách chịu đựng. Còn tôi muốn học cách lựa chọn.
Nếu có gia đình, tôi muốn xây dựng nó. Nếu có con, tôi muốn chăm sóc chúng. Nếu yêu một người, tôi muốn hết lòng với người đó. Nhưng bên cạnh tất cả những điều ấy, tôi vẫn muốn giữ lại một phần đời sống chỉ thuộc về mình: Một công việc. Một tài khoản của riêng mình. Một vài người bạn. Một sở thích. Một thế giới nhỏ ngoài cánh cửa gia đình.
Bởi sau cùng, một người phụ nữ có thể dành rất nhiều tình yêu cho người khác, nhưng cô ấy vẫn cần học cách đừng đánh mất chính mình trong tình yêu ấy. Và có lẽ đó là bài học lớn nhất mà cuộc đời mẹ đã vô tình dạy cho tôi.
