Thân và cành cây đa 13 gốc xòe ngang trên sân miếu

BÍ ẨN CÂY ĐA 13 gốc HƠN 300 TUỔI

và câu chuyện về vị nữ tướng lừng danh đất Cảng

BÀI VIẾT
XUÂN HỒNG
ẢNH
QUANG LÊ
THIẾT KẾ
QUANG LÊ

Chúng tôi về Hải Phòng những ngày đầu tháng Bảy nắng cháy, để đứng dưới một gốc đa không giống bất cứ gốc đa nào mình từng gặp - nơi một vị nữ tướng thời Ngô Quyền vẫn được tin là đang “ngự”.

Cây đa, bến nước, sân đình - có lẽ là ba hình ảnh dệt nên phần hồn cốt nhất của làng quê Việt, thứ mà ai xa quê cũng mang theo trong trí nhớ như một tấm bản đồ không bao giờ cũ. Nhưng ở đất Cảng, chúng tôi gặp một cây đa không có bến nước đi cùng, cũng chẳng đứng cạnh sân đình nào và chính vì thế mà câu chuyện của nó khác hẳn mọi cây đa chúng tôi từng nghe kể.

Những ngày đầu tháng 7, nắng Hải Phòng hắt xuống phố như rang, chúng tôi lên đường về đất Cảng với một nỗi tò mò khó gọi thành tên. Ở mảnh đất cổ này, người ta vẫn rỉ tai nhau về một ngôi miếu nhỏ, nơi thờ một vị nữ tướng tài ba dưới thời Ngô Vương, nằm lọt thỏm dưới tán một cây đa 13 gốc - cái tên nghe đã thấy lạ, thấy thiêng.

Tượng Chúa Bà trong khám thờ
01

CHÚA BÀ NĂM PHƯƠNG

Giai thoại về vị nữ tướng lừng danh đất Cảng

Hỏi người Hải Phòng về cây đa 13 gốc ở xóm Trại, phường Đằng Giang (nay thuộc phường Gia Viên), hiếm ai lắc đầu không biết. Dưới tán cây ấy là nơi “ngự” của Bà Chúa Năm Phương - hay Chúa Ngũ Phương, Vũ Quận Bạch Hoa Công Chúa, Đức Vũ Quận Quyến Hoa Công Chúa - những cái tên gọi khác nhau cho cùng một niềm tôn kính.

Tích xưa kể, Bà là người đã giúp Ngô Quyền quản kho lương thực, quân nhu, để đoàn quân có đủ sức làm nên chiến thắng Bạch Đằng - trận đánh khép lại nghìn năm Bắc thuộc, mở ra một vận nước mới. Năm 1924, vua Khải Định sắc phong Bà là “Ngũ Phương Vũ Quận Quyến Hoa Công Chúa Hộ Quốc Trang Huy Thượng Đẳng Thần”, cho làng Gia Viên được phụng thờ.

Người xưa còn truyền rằng Bà vốn là tiên nữ trên thiên đình, một lần “lịch kiếp” mà hạ giáng vào nhà họ Vũ ở làng cổ Gia Viên, phủ Kinh Môn - nay là đất Ngô Quyền, Hải Phòng. Rồi từ một cô gái mang mệnh tiên, Bà trở thành nữ tướng dưới cờ Ngô Vương, đóng bản doanh ở làng Cấm - chính là phố Cấm bây giờ. Cả một kho quân nhu lớn được Bà cai quản chu toàn đến mức binh lính không bao giờ phải lo đói. “Thực túc binh cường” - ăn no mới mạnh, mới đủ sức đánh giặc là khẩu hiệu Bà đặt ra, và cũng là thứ góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại trên sông Bạch Đằng. Ngô Quyền, để ghi công đã phong Bà tước Ngô Vương Vũ Quận Chúa.

Bà “hóa” vào ngày 16/6 Âm lịch, khoảng năm 939-944. Trở về cõi tiên, Bà được giao cai quản ngũ phương trời đất, và từ đó, dân gian tôn Bà là Bà Chúa Năm Phương, gửi vào câu ca dao còn truyền đến hôm nay:

Đèn chuỗi hạt trắng trong miếu

Năm phương năm miếu rõ ràng
Sắc phong bản cảnh chúa bà ngũ phương
Quyền bà cai quản năm phương
Muôn dân sớm tối dâng hương chúa bà

Tượng Chúa Bà bên đài sen trắng

Chúng tôi tìm về miếu thờ Bà để thỉnh an, và cũng để tận mắt nhìn cây đa cổ thụ hàng trăm tuổi với 13 gốc lạ kỳ ấy - thứ khiến cả vùng đất này phải nhắc tên. Ở Hải Phòng, nơi thờ Chúa Ngũ Phương không chỉ có một: Đền Tiên Nga trên phố Lê Lợi, chùa Cấm còn gọi là Cấm Giang Bản Cảnh Linh Từ, đền Vườn Hoa Chéo trên đường Trần Hưng Đạo... Nhưng người ta vẫn đổ về miếu dưới gốc đa 13 gốc nhiều hơn cả, như thể đây mới là nơi Bà thật sự “ở”.

Rễ phụ cây đa đan dày quanh thân

Thỉnh lai Tiên Chúa giáng nơi Hải Phòng
Thung dung phủ tía lầu hồng
Cây Đa chính ngự nhiều tầng thấp cao
Miếu thờ như thể động đào
Mười ba cội gốc vươn cao lá cành

Miếu Chúa Bà dưới gốc đa, hoa trắng dâng lễ
02

NƠI GỬI GẮM NIỀM TIN TÂM LINH CỦA NGƯỜI DÂN ĐẤT CẢNG

Trăm năm dầu lỗi hẹn hò
Cây đa bến cũ con đò khác đưa
Cây đa cũ, bến đò xưa
Bộ hành có nghĩa nắng mưa cũng chờ

Ở làng quê Bắc Bộ, cây đa đầu làng, cuối làng, hay đứng lặng cạnh đình đền, am miếu, từ lâu đã hằn vào tâm trí người ta như một tín ngưỡng không cần ai dạy. Ai cũng cất giữ một bóng đa trong lòng, để mỗi lần xa quê, nó lại hiện lên như một ngọn hải đăng gọi người ta quay về. Cây đa 13 gốc ở miếu Bà Chúa Năm Phương cũng đứng đó, lặng lẽ như một vị thần canh giữ, nhưng nhiều hơn thế - nó còn là nơi người ta thác gửi cả niềm tin của mình.

Không biết từ bao giờ, cứ ngày mùng Một, ngày Rằm hàng tháng, hay các dịp lễ tết, ngôi miếu nhỏ dưới cây đa 13 gốc lại nghi ngút khói hương, thu hút đông đảo người dân thành phố và du khách thập phương về chiêm bái.

Hồ sen gần miếu

Ai cũng cất giữ một bóng đa trong lòng, để mỗi lần xa quê, nó lại hiện lên như một ngọn hải đăng gọi người ta quay về.

Cành đa vươn ngang trên hoa trắng

Những câu chuyện bên gốc đa

Câu chuyện khởi sinh của ngôi miếu có lẽ có nhiều phiên bản, nhưng với mỗi người tìm đến đây xin lộc, xin tài, truyền thuyết về chốn thiêng này đã nằm sẵn trong lòng họ từ trước.

Chúng tôi gặp chị Chu Thị Thủy khi chị vừa dâng lễ xong - một người con dâu đất Cảng, mỗi tháng đều đặn tìm về đây một lần. Chị kể cho chúng tôi, những người con xứ lạ, bằng một sự nhiệt tình khiến câu chuyện như sống lại ngay trước mắt: “Ngôi miếu này trước kia rất nhỏ, cây đa này từ đầu chỉ có một thân thôi, từ khi Chúa về đây ngự thì ra đủ 13 nhánh nên gọi đây là cây đa 13 gốc. Mặc dù những rễ nhỏ cũng mọc ra nhưng chính thì đủ 13 gốc đấy”.

Các thân đa quét vôi trắng bao quanh miếu Chúa Bà
NHỮNG THÂN ĐA MỌC RA TỪ RỄ, GỐC QUÉT VÔI TRẮNG, BAO QUANH MIẾU CHÚA BÀ

Rồi câu chuyện của chị Thủy chuyển sang một màu sắc khác, huyền hoặc hơn. Chúa Ngũ Phương, chị nói, còn là Bản cảnh Thành hoàng được thờ ở quận Lê Chân, nên người ta thường đi lễ Chúa vào đúng giờ Tý - 12 giờ đêm vì đó là lúc “Chúa ngự về”. Và chị kể cho chúng tôi nghe về người đàn ông đạp xích lô năm nào, giữa đêm khuya chở một người con gái từ Vườn Hoa Chéo về đến gốc đa 13 gốc. Đến nơi, người con gái ném cho ông một đống tiền, rồi biến mất không một dấu vết. Lúc nhìn lại, ông mới hay đó toàn là lá đa. Từ hôm ấy, người đàn ông làm ăn khấm khá hẳn lên và cũng từ đó, miếu nhỏ dưới gốc đa cũng ra đời, với lễ vật truyền đời là những chiếc xích lô, xe kéo bằng mã giấy.

“Mình đi xin sức khỏe, bình an, người dân Hải Phòng thường về đây xin lộc làm lộc ăn. Những người trẻ bây giờ cũng tìm về với Chúa rất nhiều”.

CHỊ CHU THỊ THỦY
Người dân hóa vàng mã
Người bán đồ lễ trước miếu

“Mình đi xin sức khỏe, bình an, người dân Hải Phòng thường về đây xin lộc làm lộc ăn. Những người trẻ bây giờ cũng tìm về với Chúa rất nhiều”, chị Thủy nói, giọng của một người đã coi nơi này là một phần đời sống của mình, dù chị chỉ là “về làm dâu” đất Cảng.

Cụ Đinh Thị Từ, người trong Ban quản lý ngôi miếu, kể cho chúng tôi một lớp thông tin khác, như một nét vẽ thêm vào bức tranh đã đủ nhiều bí ẩn: “Các cụ lấy tích 13 gốc từ xưa, nhưng hiện nay cây đa có khoảng hai chục gốc rồi. Trước kia, nơi này thờ ông Đức Thổ Vượng, giờ Chúa Bà ngự về đây nên mới gọi là cây đa 13 gốc”.

Cành đa phủ rêu vươn ngang
03

CÂY ĐA THIÊNG CHỈ PHÁT TRIỂN BỀ NGANG

Khác với một cây đa nổi tiếng khác ở bán đảo Sơn Trà, nghìn năm tuổi, vươn cao đến 20m, tán xòe 10m, thì cây đa 13 gốc ở đây lại chọn một cách tồn tại khác - không vươn lên trời, mà trải rộng ra mặt đất. Chúng tôi đứng dưới tán cây, ngước nhìn, và cũng tò mò không kém.

Cụ Đinh Thị Từ giải thích, bằng giọng kể của người đã thuộc câu chuyện này từ rất lâu: Ngày xưa, lính đánh trận dưới sông Bạch Đằng từng chạy lên đây, buộc ngựa nghỉ chân, vô tình làm gãy ngọn cây. Từ đó, cây đa không còn mọc thẳng lên nữa, mà xòe ngang ra như một vết thương đã hóa thành hình dáng vĩnh viễn.

Thân đa quấn rễ phụ nhìn từ dưới lên

Từ đó, cây đa không còn mọc thẳng lên nữa, mà xòe ngang ra như một vết thương đã hóa thành hình dáng vĩnh viễn.

Thân cây chỉ cao hơn 10m, nhưng tán và rễ phụ lại xòe rộng ra bốn phía - tổng diện tích tán của cây đa độc nhất vô nhị này lên đến vài trăm mét vuông, đủ để đứng dưới đó, người ta có cảm giác như lạc vào một căn nhà xanh không có tường.

Tán đa xòe ngang phủ kín sân miếu và hàng ghế đá
TÁN ĐA TRẢI RỘNG PHỦ BÓNG CẢ KHOẢNG SÂN, NƠI PHƯỜNG KÊ THÊM GHẾ ĐÁ CHO NGƯỜI ĐẾN LỄ
Tượng rồng trên mái miếu
04

KHUNG GIỜ DÂNG LỄ LẠ KỲ

Trong tất cả những dị bản thần tích mà người Hải Phòng vẫn kể cho nhau, điều khiến dân chúng thập phương tìm về đây nhiều nhất vẫn là câu chuyện hiển linh vào giờ Tý - câu chuyện mà chị Thủy đã kể cho chúng tôi, nhưng ở một dị bản khác, nó còn cũ hơn, từ thời Pháp thuộc.

Người ta kể, có một người phu xe đứng chờ khách ở Vườn Hoa Chéo. Giữa đêm, một người con gái vận đồ trắng gọi xe, xin chở về khu xóm Trại.

Người phụ nữ khấn trước cửa miếu

Đến nơi có cây đa 13 gốc, người con gái bỗng biến mất, để lại trên xe một đống tiền mà khi nhìn kỹ, toàn là lá đa.

Câu chuyện tâm linh truyền miệng quen thuộc với người dân đất Cảng.

Người ta tin rằng đó chính là Bà Chúa Năm Phương đã hiện về. Và từ đó, nơi ấy trở thành chốn phụng thờ Chúa Ngũ Phương, còn người dân thì cứ đến mùng Một, ngày Rằm lại tìm về dâng hương, xin lộc, như một lời hẹn không ai phải nhắc:

Năm phương, năm miếu rõ ràng
Sắc phong bản cảnh Chúa Bà ngũ phương
Quyền Bà cai quản năm phương
Muôn dân sớm tối dâng hương Chúa Bà
Chúa Bà ngự tại gốc đa
Mười ba quán gốc người qua sớm chiều
Nón dâu áo trắng yêu kiều
Canh ba giờ Tý mỹ miều hiện thân
Cành đa phủ rêu dày
05

CÂY ĐA HƠN 300 TUỔI VỚI CON SỐ 13 ĐẶC BIỆT

Có những con số mang trong mình một nỗi e dè không lời giải thích. Với văn hóa Âu Mỹ, 13 là con số bị chối từ - nhiều tòa cao tầng còn không đặt tên tầng 13, mà gọi tránh thành 12A. Người ta vẫn nhắc đến ngày 13/4/1970, khi tàu Apollo 13 của Mỹ nổ bình dưỡng khí giữa không gian, hay cái chết của Công nương Diana tại trụ cột thứ 13 trong đường hầm Pont de l’Alma, Paris như những minh chứng cho một định kiến đã ăn sâu.

Nhưng ở Trung Quốc, con số 13 lại mang một gương mặt khác hẳn - là con số của may mắn, gắn với Thập Tam Kinh trong Nho giáo, mười ba bộ sách kinh điển. Người Quảng Đông, Hồng Kông còn ưa chuộng số 13 vì nó đồng âm với “thực sinh” - chắc chắn còn sống.

Chúng tôi không khỏi tự hỏi, liệu có phải là một sự trùng hợp, khi ngôi miếu linh thiêng này lại tọa ngay dưới một cây đa mang đúng con số ấy? Mùa xuân năm 2014, cây đa 13 gốc được công nhận là “Cây di sản Việt Nam”. Theo Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam, cây đã khoảng 315 năm tuổi, thân chính ở độ cao cách mặt đất 3m với chu vi 4,5m; ngoài thân chính, cây còn có 12 thân khác mọc ra từ rễ, tán tỏa rộng hình mâm xôi, phủ bóng trên diện tích hơn 350m².

315NĂM TUỔI, THEO HỘI BẢO VỆ THIÊN NHIÊN VÀ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM
13THÂN: 1 THÂN CHÍNH VÀ 12 THÂN MỌC RA TỪ RỄ
350m²DIỆN TÍCH TÁN PHỦ BÓNG, HÌNH MÂM XÔI
Bia công nhận Cây di sản Việt Nam - cây đa tía
BIA CÂY DI SẢN VIỆT NAM GHI LOÀI CÂY: ĐA TÍA (FICUS ALTISSIMA BLUME)

Ngay dưới tán cây ấy, miếu thờ Bà Chúa Năm Phương vẫn đứng đó, nhỏ bé như từ thuở ban đầu. Nhiều năm qua, không ít người muốn góp công, góp của để xây cho Bà một ngôi đền to đẹp hơn. Nhưng Chúa Bà - theo lời cụ Đinh Thị Từ “không đồng ý”. Dẫu người ta có “xin đài” bao nhiêu lần, Bà vẫn chỉ muốn ở trong ngôi miếu nhỏ này mà thôi, như thể sự linh thiêng không cần phải đo bằng quy mô:

Dâng lên chính cửa Chúa Bà
Nón dâu, áo bạch, quạt ngà hoa tiên

Bà vẫn chỉ muốn ở trong ngôi miếu nhỏ này mà thôi, như thể sự linh thiêng không cần phải đo bằng quy mô.

Trước sân miếu, những hàng quán nhỏ bán đồ lễ đều nhất quán một màu - hoa, nến, đèn, đồ mã, phu xe, trang phục, nón hài, tất cả đều trắng, vì đó là màu Chúa Bà yêu thích. Xung quanh, UBND phường đã cho lát gạch sạch đẹp, kê thêm những hàng ghế đá, để ai đến đây cũng có thể ngồi lại một lúc, nghe gió, nghe lá đa xào xạc, và đọc thầm những câu còn lưu lại từ ngàn xưa:

Đền thờ chúa am thanh cảnh vắng
Thú hữu tình cảnh vật tốt sao
Đôi bên long hổ chầu vào
Có cây cổ thụ vươn cao rườm rà
Hương trời ngào ngạt gió đưa
Dấu thiêng để lại ngàn xưa còn truyền

Có lẽ, một vùng đất không trở nên thiêng liêng chỉ vì nó có di tích hay thắng cảnh. Sự thiêng liêng ấy được làm nên từ chính lòng tín tâm mà người dân gửi vào nơi chôn rau cắt rốn của mình - từ những điều họ không thể chứng minh, nhưng vẫn chọn để tin.

Chim bồ câu trắng đậu trên cành đa

Những điều họ không thể chứng minh, nhưng vẫn chọn để tin.

Gặp những người Hải Phòng ở miếu Chúa Bà hôm đó, nghe họ kể, nhìn cách họ chắp tay trước gốc đa già, chúng tôi hiểu thêm một điều: Ngoài việc mưu sinh, con người vẫn luôn cần một điểm tựa khác - một chốn u huyền gắn với những thần tích đã sống qua nhiều thế kỷ, để biết mình không đơn độc giữa những điều không thể lý giải. Và đó cũng là nơi họ cất giữ niềm tự hào về đất mình, để mỗi lần có những người con xa xứ như chúng tôi tìm đến, đôi mắt họ lại ánh lên niềm kiêu hãnh, say sưa kể một câu chuyện mà đi đâu cũng không tìm thấy lần hai.

BÀI VIẾT
XUÂN HỒNG
ẢNH
QUANG LÊ
THIẾT KẾ
QUANG LÊ
KÝ SỰ TÂM LINH