Đại gia Minh Nhựa có thể bị phạt vì chưa ly hôn đã chung sống như vợ chồng với người phụ nữ khác

Khởi kiện ly hôn, đại gia Minh Nhựa cho rằng kết hôn với bà Thuý từ năm 2002. Đến nay đời sống hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông nộp đơn đề nghị giải quyết ly hôn cho các bên.

Ngày 22/2, dư luận xôn xao trước sự việc ông Phạm Trần Nhật Minh (SN 1983), được nhiều người biết đến là Đại gia Minh Nhựa đề nghị tòa án tuyên bố vợ là bà Nguyễn Thị Phương Thúy (SN 1982) mất tích, sau khi ông này đệ đơn ly hôn.

Vụ đại gia Minh Nhựa đệ đơn ly hôn, yêu cầu tòa tuyên bố vợ mất tích: Ông Minh có thể bị xử phạt vì chưa ly hôn đã sống như vợ chồng với người khác - Ảnh 1.

Đại gia Minh Nhựa và bà Thúy hồi còn mặn nồng!

Bà Thúy là vợ hợp pháp của "đại gia Minh Nhựa", hai người có ba người con, tuy nhiên, từ lâu họ không còn sống chung. "Đại gia Minh Nhựa" hiện đang chung sống với một người khác và có thêm 2 con nhỏ. Mới đây, đại gia này nộp đơn ly hôn ra tòa án. Hiện TAND quận 5 (TP.HCM) thụ lý vụ án ly hôn trên.

Theo đơn ly hôn của ông Minh, 2 vợ chồng ông kết hôn từ năm 2002 nhưng do đời sống hôn nhân mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông nộp đơn đề nghị tòa giải quyết ly hôn.

Về con chung hiện đang ở với bà Thúy, ông Minh tự nguyên chu cấp 50 triệu đồng/tháng/con. Về tài sản chung, theo ông Minh, các bên không có tài sản chung nên không yêu cầu tòa giải quyết.

Ngoài ra, trong quá trình thụ lý, giải quyết án ly hôn, "đại gia" Minh nhựa có đơn yêu cầu tòa giải quyết ly hôn trong trường hợp tuyên bố bà Nguyễn Thị Phương Thúy "mất tích" do bà Thúy đã rời khỏi nơi cư trú hơn 8 năm nay, hiện không xác định được nơi ở của bà Thúy.

Góc nhìn pháp lý

Liên quan đến vụ việc trên, trao đổi với chúng tôi, luật sư Đặng Văn Cường - Đoàn Luật sư TP. Hà Nội cho biết, nếu vợ đại gia Minh nhựa đi khỏi nhà 2 năm mà không có tin tức gì thì ông này có quyền đề nghị tòa án tuyên bố mất tích và đề nghị ly hôn theo quy định pháp luật. 

Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: 

Khi một người biệt tích 2 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích. 

Điều luật này cũng quy định, thời hạn 2 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng. 

Luật hôn nhân và gia đình quy định vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, quý trọng, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ để xây dựng gia đình hạnh phúc. Việc vợ chồng cách xa nhau không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, kinh tế riêng biệt, ốm đau bỏ mặc thì tình trạng hôn nhân như vậy là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Trong trường hợp hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài hoặc không còn sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được thì một bên có quyền yêu cầu tòa án giải quyết đơn phương ly hôn mà không cần sự đồng ý của bên kia. 

Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015 cũng quy định: Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

Sau khi nhận được hồ sơ đề nghị tuyên bố mất tích, tòa án sẽ thụ lý và tiến hành thông báo tìm kiếm trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 4 tháng. Nếu kết thúc thời hạn thông báo mà không có tin tức gì thì tòa án sẽ mở phiên họp và ra quyết định tuyên bố người phụ nữ đó đã mất tích. 

Như vậy, theo luật sư Cường, sau khi thông báo tìm bà Thúy được đăng công khai, nếu 4 tháng bà này không liên hệ với cơ quan chức năng thì đại gia Minh Nhựa sẽ có quyền nộp đơn ly hôn đơn phương với vợ.

Ly hôn với người mất tích thuộc trường hợp không hòa giải được, tòa án sẽ đưa vụ án ra xét xử.

Chung sống với Mina Phạm khi chưa ly hôn, ông Minh có vi phạm?

Tuy nhiên trong vụ việc của vợ chồng Minh nhựa, có một điểm đáng chú ý là, từ đơn đề nghị của vị đại gia này gửi tới tòa án có thể khẳng định vợ chồng họ chưa ly hôn. Thế nhưng trong nhiều năm qua, dư luận đồn đoán việc đại gia Minh nhựa có quan hệ tình cảm với cô gái có tên Mina Phạm, hai người thường công khai mối quan hệ trước nhiều người.

Điều đó cho thấy vị đại gia này và cô gái tên Mina Phạm có biểu hiện vi phạm Luật Hôn nhân và Gia đình, khi mà người chồng chưa ly hôn mà đã sống chung với người phụ nữ khác như vợ chồng.

Vụ đại gia Minh Nhựa đệ đơn ly hôn, yêu cầu tòa tuyên bố vợ mất tích: Ông Minh có thể bị xử phạt vì chưa ly hôn đã sống như vợ chồng với người khác - Ảnh 3.

Mina Phạm được biết đến với danh xưng "vợ hai Minh Nhựa"

Luật sư Cường cho biết, trong trường hợp người vợ chính thức của đại gia Minh nhựa phát hiện chồng mình (chưa ly hôn) nhưng đã tổ chức đám cưới chung sống công khai như vợ chồng với người phụ nữ khác thì người phụ nữ người vợ này có quyền gửi đơn đề nghị cơ quan điều tra hoặc tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. 

Tùy thuộc vào tính chất mức độ của hành vi sự việc phải tùy thuộc vào hậu quả xảy ra mà hành vi chung sống như vợ chồng sẽ bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Được biết, đại gia Minh Nhựa là con trai duy nhất của tổng giám đốc một công ty nhựa nổi tiếng. Ngoài sở hữu khối tài sản khủng, ông Minh còn được biết đến với việc sở hữu hàng loạt siêu xe sang, "khét tiếng" Sài Thành.

Nếu hành vi chung sống như vợ chồng (Người đã có vợ có chồng mà ăn ở công khai, ngang nhiên với nhau, có tổ chức đám cưới, có con chung, kinh tế chung... với người khác) chưa đến mức nghiêm trọng thì sẽ bị xử phạt hành chính theo Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP mức xử phạt đến 5.000.000 đồng, cụ thể như sau:

Điều 59. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng

1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

đ) Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

b) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi;

c) Cưỡng ép kết hôn hoặc lừa dối kết hôn; cưỡng ép ly hôn hoặc lừa dối ly hôn;

d) Lợi dụng việc kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình;

đ) Lợi dụng việc ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân."

Trường hợp hành vi chung sống như vợ chồng dẫn đến ly hôn hoặc đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm thì người vi phạm có thể bị xử lý hình sự theo điều 182 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 Hình phạt cao nhất có thể lên đến 3 năm tù, cụ thể như sau:

Điều 182: Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó."

Chia sẻ
Đọc thêm