Ép giấy thủ công: Nghề cũ đang dần mai một

Đăng Minh - Nguồn ảnh: aFamily.vn,

Khéo léo và tỉ mỉ từng nếp gấp, từng góc cạnh. Có thể nói với hơn 30 năm làm nghề, ông không chỉ ép những trang giấy mà còn ép cả lịch sử bằng đôi mắt và bàn tay của mình.

Tình cờ được kể về “bố” (cách xưng hô của ông với những người trẻ tuổi) như một trong số ít ỏi những người còn làm nghề ép giấy, bọc vở thủ công - một nghề cũ mà bây giờ hầu hết đã được thay bằng những chiếc máy ép chạy điện hiện đại, tôi tìm đến “bố” ban đầu, chỉ là để tìm lại một phần của những ký ức ngày trước thủa còn đi học cấp 1, 2. Nhưng khi gặp và trò chuyện với “bố”, tôi tìm lại được nhiều điều hơn thế qua câu chuyện nghề của ông.

74 tuổi đời và hơn 30 năm tuổi nghề, qua đôi bàn tay của "bố", có những thứ đã trờ thành kỷ niệm vô giá với nhiều người.

Đồ nghề của “bố” đơn giản chỉ là một chiếc bàn là than cũ kỹ, thước kẻ, những tập ni lông dùng để ép giấy và một vài món đồ tự chế khác. Tất cả đã gắn liền với ông hơn 30 năm làm nghề. 

Chiếc bàn là than cũ kỹ từ thời Pháp thuộc là đồ nghề chính của ông.

Tấm bảng hiệu cũng đã nhuốm màu thời gian.

Vừa làm, “bố” vừa say sưa kể cho tôi nghe về từng món đồ trên chiếc xe đẩy cũ kỹ mà ông gọi là cửa hàng, về nghề và những kỷ niệm khó quên trong những năm tháng ông gắn bó với nó.

Cửa hàng của ông tất cả vỏn vẹn chỉ là chiếc xe đẩy cũ kỹ này.

4 tuổi, “bố” cùng cả nhà từ miền Bắc vào Nam sinh sống. Năm 1945, cả nhà ông chuyển lên Sài Gòn. Lăn lộn đủ nghề từ bán hình lưu niệm, đi lính, bốc vác tại bến cảng,… cuối cùng ông chọn nghề ép giấy. Ép giấy là tên gọi đơn giản của nghề bọc ni lông cho giấy tờ, sách vở,… Nếu như trong cuộc sống nhộn nhịp, người ta đã quen với những chiếc máy ép lụa, ép plastic thì ông vẫn hàng ngày, tỉ mỉ với thước kẻ và bàn là than bọc lại từng chiếc hộ khẩu, chứng minh, từng tập vở học sinh, từng cuốn sách,…

Gắn bó với nghề ép giấy sau khi đã lăn lộn đủ nghề, dù đã già nhưng đôi tay ông vẫn chuẩn xác trong từng đường là thẳng tắp.

Chiếc bàn là với than ủ nóng là đồ vật lâu đời nhất trong số những đồ nghề làm việc của ông.

Công việc của ông bắt đầu từ chọn tấm ni lông đủ rộng và là hai mặt dính lại với nhau.

Cắt bớt những phần thừa.

Tạo đường viền bằng một thanh lò xo.

Và lau chùi sạch sẽ sản phẩm cho khách hàng.

Chiếc bàn là làm nóng bằng than là đồ dùng từ thời Pháp thuộc, chiếc ghế xếp đã qua mấy chục tuổi đời,… cùng với ông, tất cả làm nên một của hàng nho nhỏ vốn đã quen thuộc với những người thường đi qua góc đường Nguyễn Thông - Tú Xương mỗi ngày.

“Bố” kể rằng: “Ngày trước, khi chưa có điện, chưa có máy móc hiện đại như bây giờ, cửa hàng nhỏ của ông cũng đủ nuôi cả nhà với hai vợ chồng và 4 người con ăn học nên người. Nhưng bây giờ, bố chỉ làm như niềm vui tuổi già, làm để gặp gỡ mọi người thôi.

Chuyện vui thì nhiều, chuyện buồn thì chẳng có mấy. Vui nhất là có những người khách du lịch nước ngoài vẫn thường ghé qua chỗ bố để xem bố làm. Nhiều người còn chụp hình rồi gửi tặng bố. Đa phần vì họ thấy mình làm lạ quá. Nhưng có một người bố nhớ nhất là một thanh niên người Việt sống ở Mỹ. Trong một lần về quê, anh ta có đi ngang chỗ bố và thấy chiếc bàn là than bố dùng. Thế là sau đó, anh ta quay lại chỗ bố và nhờ bố dẫn đi mua một chiếc bàn là giống như vậy. Hóa ra, là ba anh ta là người Việt. Trước đây, đi lính cho chế độ cũ rồi qua Mỹ sống và lấy vợ, sinh con bên đó. Trong những câu chuyện anh ta được ba mình kể về Việt Nam có hình ảnh chiếc bàn là của bố. Thế là anh ta rất xúc động và muốn mua một cái làm kỷ niệm. Trước khi ra về, anh ta có tặng bố một chiếc bàn là than mới và bố cũng tặng anh ta một ít than, chỉ anh ta cách sử dụng bàn là như thế nào. Anh ta đã rất xúc động vì may mắn còn một người làm nghề như bố để anh ta có thể gặp lại được hình ảnh Việt Nam ngày trước như lời kể của ba mình.”

Có rất nhiều người nước ngoài đã tới cửa hàng của ông và thích thú khi thấy ông làm việc. Không ít người đã chụp hình và gửi tặng ông như một kỷ niệm thú vị.

Đó chỉ là một trong hàng loạt những câu chuyện vui về những năm làm nghề mà ông kể cho tôi nghe. Khi tôi hỏi ông sẽ làm việc thêm bao lâu nữa, ông trả lời với giọng chắc nịch: “Làm tới khi nào không đủ sức làm nữa thì thôi.”  Thế nhưng khi tôi thắc mắc: “Sao bố không truyền nghề cho ai đó để giữ lại?”, thì ông lại trầm ngâm: “Nhiều lúc, bố cũng nghĩ còn có vài người làm nghề như mình. Nếu nghỉ thì sẽ chẳng có ai làm nữa cũng tiếc. Nhưng lại không muốn truyền nghề cho ai. Không phải vì bố sợ mất nghề đâu. Nhưng còn trẻ thì phải học nghề gì kiếm ra tiền chứ học nghề của bố bây giờ làm sao mà sống!?”

Những kỷ niệm vui buồn với nghề được ông kể say sưa. Và đó cũng là niềm vui của ông trong những phút rảnh rỗi.

Cuộc sống hiện đại, mọi người đã quen với máy móc, với nhịp vội vàng. Chẳng mấy người còn để ý tới cửa hàng ép giấy nhở bé của “bố”. Những người khách quen vẫn thường ghé qua đa phần vì thích sự vui vẻ của ông, sự khéo léo và cần thận của người thợ lành nghề. Cũng có người như tôi, tìm đến ông để được nghe những câu chuyện về nghề, về những ngày tháng trước đây. Nhưng rồi sau ông liệu còn ai có thể giữ được nghề ép giấy thủ công và nhiều nghề cũ khác đang ngày một biến mất trong cuộc sống hiện đại để kể cho thế hệ sau biết về lịch sử một thời của đất nước.

"Bố" sẽ vần làm nghề tới khi nào còn có thể. Nhưng sau "bố" liệu có còn ai!?
Chia sẻ