Mùng 1, cả nhà mình thăm Văn Miếu lấy may nhé!

,

Ngày mùng 1 Tết, mẹ dẫn bé tới thăm Văn Miếu, hi vọng Tít của mẹ gặp nhiều may mắn, ngày càng chăm chỉ học tập và thông minh, học thật giỏi.

Bé là Đặng Việt Anh, tên ở nhà là Tít. Việt Anh đang học tại lớp 1 H, trường tiểu học Kim Đồng (Ba Đình – Hà Nội). Trong học kỳ một vừa rồi, bé đã chăm chỉ học tập và đạt rất nhiều điểm 10.

Phần thưởng mà bé “đòi” mẹ chỉ đơn giản là được tới thăm Văn Miếu Quốc Tử Giám. Vì ở nhà, bé hay nghe bà kể đó là trường Đại học đầu tiên ở Việt Nam. Ngày mùng 1 tết, mẹ dẫn bé tới thăm Văn Miếu, hi vọng Tít của mẹ gặp nhiều may mắn, ngày càng chăm chỉ học tập và thông minh, học thật giỏi.
 
Hai mẹ con bắt đầu tới Văn Miếu. Vừa qua cổng văn miếu hay còn gọi là tứ trụ (nghi môn), mẹ chỉ cho bé đó là Văn Miếu môn, tức là cổng tam quan phía ngoài. Cổng có ba cửa, cửa giữa cao to và xây 2 tầng.
 
Qua Văn Miếu môn, hai mẹ con dạo bước trên con đường nhỏ, lát gạch đỏ, hai bên rợp cây to. Bé bắt đầu cuộc hành trình khám phá Văn Miếu.
 

Mẹ giải thích, bé mới biết đó là Khuê văn các (nghĩa là "gác vẻ đẹp của sao Khuê").  Đây là một lầu vuông 8 mái. Gác dựng trên nền vuông cao lát gạch Bát Tràng. “Tầng dưới chỉ là 4 trụ gạch 4 bề trống không. Tầng trên là kiến trúc gỗ trừ mái lợp và những phần trang trí góc mái hoặc trên bờ nóc là bằng chất liệu đất nung hoặc vôi cát”.

 Ôi,  kiến thức bé chưa kịp nhớ hết. Chỉ thấy Khuê văn các sao mà đẹp và độc đáo thế!
 
Phần trụ của Khuê Văn Các có những hoa văn nổi hình con rồng khiến bé thích thú, cứ mải mê sờ mãi.
 

Mẹ chỉ cho bé phần di tích có giá trị bậc nhất ở Văn Miếu là 82 tấm bia Tiến sĩ dựng ở hai bên phải trái của giếng Thiên Quang. Mỗi bên 41 tấm dựng thành 2 hàng ngang, mặt bia đều quay về phía giếng. Cả hai bên, giữa mỗi vườn bia xây một tòa đình vuông, 4 mặt bỏ trống, nền cao, giữa nền có bệ, cửa đều trông thẳng xuống giếng. Đây là hai tòa đình thờ bia.

Trên những tấm bia có khắc tên những nhà sử học, bác học, văn học nổi tiếng như Ngô Sĩ Liên, Lê Văn Hưu (Nhà sử học) Lê Quý Đôn (bác học), Lương Thế Vinh (Toán học), Lương Như Hộc (ông tổ nghề in), Ngô Thì Nhậm (Nhà văn học)...
 

Bé cũng sờ đầu các cụ rùa cho học giỏi, chạm tay lên bia tiến sĩ lấy may.

Hai mẹ con nghỉ chân ở bên giếng Thiên Quan (tức "giếng soi ánh sáng bầu trời") còn được gọi là Văn Trì (Ao Văn).
 

Mẹ bảo: “Đặt tên này cho giếng, người xây dựng có ý muốn nói con người thu nhận được tinh túy của vũ trụ, soi sáng tri thức, nâng cao phẩm chất, tô đẹp nền nhân văn. Giếng hình vuông, quanh bờ đều xây hàng lan can tới độ ngang lưng.

Người xưa còn có quan niệm giếng hình vuông tượng trưng cho đất, cửa tròn gác Khuê Văn tượng trưng cho trời. Tinh hoa của cả trời cả đất đều được tập trung ở trung tâm văn hóa giáo dục uy nghiêm giữa chốn đế đô này.

Một con đường nhỏ lát gạch bao quanh giếng cho phép người ta có thể dạo quanh giếng, lên gác Khuê Văn, vào cửa Đại Thành hoặc rẽ sang 2 vườn bia đá ở 2 bên.
 

Đi khắp cả Văn Miếu, bé tần ngần hỏi mẹ: “Sao ở đây chỉ toàn chữ Trung Quốc thế ạ?”.

Mẹ bật cười: “Đây không phải là chữ Trung Quốc đâu con ạ. Đây là chữ của ông cha ta ngày xưa đấy!”.
 

Kết thúc buổi thăm Văn Miếu, bé được ra thăm phố “ông đồ” rất riêng ở Hà Nội. Hàng trăm bức tranh chữ được treo dọc khắp bức tường Văn Miếu cổ kính, rêu phong. Bé chỉ thấy sao có cả ông đồ già, ông đồ trẻ, miệt mài bên nghiên mực tàu và những tờ giấy đỏ. Bé níu tay mẹ: “Ước gì con cũng giống như các đồ, biết viết cả chữ của người xưa”.

Mùa Xuân này, đến thăm Văn Miếu - Quốc Tử Giám, bé vui lắm. Bé đã được mẹ dạy một bài học lịch sử, thêm thán phục về đức tài của người xưa.

Thu Hằng
(Ghi lại)
Chia sẻ