Mối liên hệ giữa thời tiết và bệnh tật vốn là một
nhận thức phổ biến trong nhân dân và đã được đề
cập từ các nền y học cổ xưa. Nhưng phải tới gần
đây, mới được chứng minh bằng các phương pháp khách
quan và đầy đủ hơn.
Mỗi người là một đồng hồ sinh học
Trên thực tế, quá trình thích nghi với sự biến đổi
của giờ, thời tiết và môi trường sinh thái xung quanh
của mỗi cá thể khác nhau, cho dù họ cùng huyết thống,
cùng hoàn cảnh sống. Nhiều công trình đã đóng góp rất
lớn vào việc nghiên cứu nhịp sinh học. Có nhịp sinh
học thay đổi trong thời gian rất ngắn, trong vòng 30 phút
như điện tâm đồ, điện não đồ. Có nhịp sinh học
trong 24 giờ. Có nhịp sinh học trong khoảng 24 giờ đến
2,5 ngày.
Ví dụ: nhịp thức - ngủ; nhịp nhảy cảm với thuốc;
nhịp thay đổi các thành phần của máu; nhịp thay đổi
các thành phần chất thải trong nước tiểu; nhịp thở;
nhịp chuyển hóa các chất trong cơ thể; nhịp thay đổi
thân nhiệt... Cũng có nhịp sinh học thay đổi trên 2,5
ngày, khoảng 30 ngày, 1 năm như chu kỳ kinh nguyệt, sinh đẻ
và các hoạt động nội tiết.
Nhưng đối với mỗi cá thể, những nhịp sinh học nói
trên có thể khác nhau. Chính vì vậy, rất nhiều khuyến
cáo với bác sĩ điều trị rằng khai thác tiền sử bệnh
nhân kỹ là chưa đủ mà còn tìm hiểu rõ điều kiện
sống, khả năng thích nghi của họ với môi trường sống,
thậm chí là những thói quen... sẽ giúp bác sĩ có được
chỉ định điều trị tốt nhất với từng người.
Phòng bệnh theo nhịp sinh học
Huyết áp của người bình thường thay đổi nhiều nhất
và theo nhịp 24 giờ. Sự thay đổi này có những chu kỳ
nhất định song ở từng cá thể cũng khác nhau. Để
phòng và điều trị tốt nhất các biến đổi này, người
ta đã phát minh ra một loại máy đo huyết áp gắn vào cơ
thể đo 24 giờ (kể cả lúc ăn, ngủ).
Bệnh hen phế quản xẩy ra ban đêm, gần sáng vì tuyến
thượng thận sản xuất ra chất cortisol theo nhịp ngày
đêm và tỷ lệ cortisol máu sản xuất thấp nhất vào ban
đêm do đó dễ xuất hiện cơn hen lúc cortisol máu thấp
nhất. Chất này thường dùng để điều trị cơn hen.
Thị lực cũng thay đổi theo nhịp khoảng 30 ngày và thời
kỳ rụng trứng của phụ nữ là thời kỳ có thị lực
tốt nhất. Có thể nói, các hoạt động có tính chất
chu kỳ, tính chất nhịp điệu này xuất hiện như một
đặc tính cơ bản của vật chất sống. Nhưng nhịp sinh
học này ngoài sự quyết định của chính bản thân vật
chất, sinh học còn có ảnh hưởng của môi trường, khí
hậu, thời tiết. Người ta cũng xét đoán và nghiên cứu
xem những loại bệnh gì không thích hợp với loại hình
thời tiết nào, với những, với những yếu tố khí
tượng nào.
Gió, nhiệt độ, độ ẩm, khí áp, độ iôn trong khí
quyển... ảnh hưởng tới con người ở những mức độ
nào, kéo dài bao nhiêu lâu và biến động như thế nào sẽ
gây nguy hại cho sức khỏe và sẽ gây nên bệnh tật? Đó
là những điều mà y sinh khí tượng học quan tâm.
Để giảm thiểu tử vong, một số tác giả đã nghiên
cứu sự phân phối ngày, đêm đối với sự tử vong của
một số bệnh. Tai biến mạch máu não xẩy ra nhiều nhất
vào tháng 12 và tháng 1, ít nhất vào tháng 5, tháng 6 và
vào buổi sáng từ 7-12 giờ 59 phút. Nhóm bệnh tim mạch
tử vong nhiều nhất vào buổi tối. Bệnh tiêu hóa tăng
rõ rệt vào mùa hè. Như vậy, thời bệnh học nghiên cứu
tìm ra các nhịp, các chu kỳ bệnh tật và tử vong.
Cơ thể chúng ta được coi như một đồng hồ sinh học
lớn, trong đó có rất nhiều loại đồng hồ sinh học
nhỏ hoạt động theo các chu kỳ riêng theo một quay luật
nhất định. Do đó phải nghiên cứu các loại hoạt động
của từng đồng hồ (cũng có nghĩa là từng bộ phận
của cơ thể) để phòng tráng bệnh tật và điều trị
hữu hiệu.
Theo THS. Phan Ngọc Minh
Sức khỏe
& Đời sống